Bình luận, phân tích Điều 7 BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung 2017

92f06e9a75ecfdb2a4fd

Bình luận, phân tích

Chuong II

HIỆU LỰC CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ

Chương II bao gồm các quy định về: Hiệu lực của Bộ luật Hình sự đối với những hành vi phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điểu 5); Hiệu lực của Bộ luật Hình sự đối với những hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 6) và Hiệu lực của Bộ luật Hình sự về thời gian (Điểu 7). Các quy định này xác định phạm vi không gian (lãnh thổ) và thời gian áp dụng Bộ luật này nhằm bảo đảm nhận thức đúng và áp dụng thống nhất các quy định của Bộ luật trong thực tiễn. So với Bộ luật Hình sự năm 1999, các quy dinh trong Chương II của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung nhằm xác định rõ hơn hiệu lực về không gian đối với các chủ thể thực hiện tội phạm, đồng thời bổ sung quy định về hiệu lực của Bộ luật này đối với pháp nhân thương mại phạm tội.

Điểu 7. Hiệu lực của Bộ luật Hình sự về thời gian

1. Điều luật được áp dụng đối với một hành vi phạm tội là điều luật đang có hiệu lực thi hành tại thời điểm mà hành vi phạm tội được thực hiện.

2. Điều luật quy định một tội phạm mới, một hình phạt nặng hơn, một tình tiết tǎng nặng mới hoặc hạn chế phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự,loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và quy định khác không có lợi cho người phạm tội, thì không được áp dụng đốî với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành.

3. Điều luật xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng, quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới hoặc mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện, xóa án tích và quy định khác có lợi cho người phạm tội, thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành.

1. Hiệu lực về thời gian của Bộ luật Hình sự năm 2015 là khoảng thời gian mà Bộ luật có hiệu lực thi hành (được áp dụng) đối với các hành vi phạm tội được thực hiện. Theo quy định này thì điều luật được áp dụng đối với một hành vi phạm tội là điều luật dang có hiệu lực thi hành tại thời điểm mà hành vi phạm tội được thực hiện.

2. Kể từ ngày 01-01-2018, điểu luật quy định một tội phạm mới, một hình phạt nặng hơn, một tình tiết tăng nặng mới hoặc hạn chế phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và quy định khác không có lợi cho người phạm tội, thì không được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành, cụ thể như sau:

a) Tất cả các điều khoản của Bộ luật này được áp dụng để khởi tố, điều tra,truy tố, xét xử và thi hành án đối với người thực hiện hành vi phạm tội từ 0 giờ 00 phút ngày 01-01-2018;

b) Các điều khoản của Bộ luật Hình sự năm 2015 xóa bỏ một tội phạm,một hình phạt, một tình tiết tăng nặng; quy định hình phạt nhẹ hơn, tình tiết giảm nhẹ mới; miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội thì được áp dụng đối với cả những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01-01-2018 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích;

c) Tội phạm mới quy định tại các diêu 147, 154, 167, 187, 212, 213, 214, 215, 216, 217, 217a, 218, 219, 220, 221, 222, 223, 224, 230, 234, 238, 285, 291, 293, 294, 297, 301, 302, 336, 348, 388, 391, 393 và 418 của Bộ luật Hình sự năm 2015; các điểu luật bổ sung hành vi phạm tội mới, các điểu luật quy định một hình phạt mới,một hình phạt nặng hơn, một tình tiết tăng nặng mới; các điểu luật quy dinh hạn chế phạm vi miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và các quy định khác không có lợi cho người phạm tội thì không áp dụng đối với những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01-01-2018 mà sau thài điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điểu tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích; trong trường hợp này,vẫn áp dụng quy định tương ứng của các văn bản quy phạm pháp luật vể hình sự cóhiệu lực trước 0 giờ 00 phút ngày 01-01-2018 để giải quyết;

d) Quy định tại điểm b và điểm c khoản này cũng được áp dụng đối với các điều luật mới quy định tội được tách ra từ các tội ghép trong Bộ luật Hình sự năm 1999;

đ) Các tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng”, “gây hậu quả rất nghiêm trọng”,“gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”, “số lượng lớn”, “số lượng rất lớn”,“số lượng đặc biệt lớn”, “thu lợi bất chính lớn”, “thu lợi bất chính rất lớn”, “thu lợi bất chính đặc biệt lớn”, “đất có diện tích lớn”, “đất có diện tích rất lớn”, “đất có diện tích đặc biệt lớn”, “giá trị lớn”, “giá trị rất lớn”, “giá trị đặc biệt lớn”, “quy mô lớn” của Bộ luật Hình sự năm 1999 đã được áp dụng để khởi tố bị can trước 0 giờ 00 phút ngày 01-01-2018 thì vẫn áp dụng quy định của Bộ luật này để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, trừ trường hợp quy định tại điểm d khoản 2 Điều này;

e) Đối với hành vi hoạt động phí (Điều 83), hành vi đăng ký kết hôn trái pháp luật (Điều 149), hành vi kinh doanh trái phép (Điều 159), hành vi cố ý làm trái quy định về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 165) của Bộ luật Hình sự năm 1999 xåy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01-01-2018 mà sau thời điểm đó vụ án đang trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì tiếp tục áp dụng quy định của Bộ Luật Hình sự năm 1999 để xử lý; trường hợp vụ án đã được xét xử và đã có bản án,quyết định của Tòa án thì không được căn cứ vào việc Bộ luật Hình sự năm 2015 không quy định tội danh hoạt động phỉ, tội danh đăng ký kết hôn trái pháp luật, tội danh kinh doanh trái phép, tội danh cố ý làm trái quy định về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng để kháng cáo, kháng nghị theo hướng không phạm tội. Trường hợp người bị kết án đang chấp hành án về tội hoạt động phỉ, tội đăng ký kết hôn trái pháp luật, tội kinh doanh trái phép, tội cố ý làm trái quy định về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã chấp hành xong bản án thì vẫn áp dụng quy định tương ứng của các văn bản quy phạm pháp luật về hình sự có hiệu lực trước 0 giờ 00 phút ngày 01-01-2018 để giải quyết; nếu sau thời điểm 0 giờ 00 phút ngày 01-01-2018 mới bị phát hiện thì không khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về Tội hoạt động phí (Điều 83), Tội đăng ký kết hôn trái pháp luật (Điều 149), Tội kinh doanh trái phép (Điều 159), Tội cố ý làm trái quy định về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 165) của Bộ luật Hình sự năm 1999 mà áp dụng quy định của Bộ luật Hình sựnǎm 2015 về các tội danh tương ứng để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử;

g) Đối với những hành vi phạm tội đã có bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trước 0 giờ 00 phút ngày 01-01-2018 thì không được cǎn cứ vào những quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 có nội dung khác so với các điều luật đã được áp dụng khi tuyên án để kháng nghị giám đốc thẩm; trường hợp kháng nghị dựa vào căn cứ khác hoặc đã kháng nghị trước ngày 01-01-2018 thì việc xét xử giám đốc thẩm phải tuân theo quy định tại điểm b và điểm c khoản này;

h) Các quy định về trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại tại Bộ Luật Hình sự năm 2015 không áp dụng đối với những hành vi phạm tội của pháp nhân thương mại xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01-01-2018;

i) Trường hợp chất thu giữ được nghi là chất ma túy ở thể rắn đã được hòa thành dung dịch, chất ma túy ở thể lỏng đã được pha loãng, sái thuốc phiện hoặc thuốc gây nghiện, thuốc hướng thân quy định tại các điều 248, 249, 250, 251 và 252 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì phải xác định hàm lượng chất ma túy làm cơ sở để xác định khối lượng hoặc thể tích chất ma túy thu giữ được. Đối với các trường hợp khác thì thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

3. Điều luật xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng, quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới hoặc mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện, xóa án tích và quy định khác có lợi cho người phạm tội, thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành. Kể từ ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 được công bố (ngày 20-6-2017) (gọi tắt là Luật số 12/2017/QH14) tiếp tục thực hiện các quy định sau đây’:

a) Không áp dụng hình phạt tử hình khi xét xử người phạm tội mà Bộ luật này đã bỏ hình phạt tử hình hoặc đối với người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xu;

b) Hình phạt tử hình đã tuyên đối với người thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này nhưng chưa thi hành án thì không thi hành và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chuyển hình phạt tử hình thành hình phạt tù chung thân;

c) Đối với người đã bị kết án tử hình nhưng chưa thi hành án mà có đủ các điều kiện quy định tại điểm c khoản 3 Điều 40 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì không thi hành án và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chuyển hình phạt tử hình thành hình phạt tù chung thân;

d) Không xử lý về hình sự đối với người thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định là tội phạm nhưng Bộ luật Hình sự năm 2015 không quy định là tội phạm, bao gồm: tảo hôn; báo cáo sai trong quản lý kinh tế; vi phạm quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp; sử dụng trái phép quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng; không chấp hành các quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, quản chế hành chính; hành vi theo Bộ luật Hình sự năm 1999 (được hướng dẫn thi hành trong các văn bản quy phạm pháp luật) là tội phạm nhưng do có sửa đổi, bổ sung, thay đổi các yếu tố cấu thành tội phạm nên hành vi đó không cấu thành tội phạm nữa. Nếu vụ án đã khởi tố, đang điều tra, truy tố, xét xử thì phải đình chỉ; trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt hoặc đang được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành phẩn hình phạt còn lai; trường hợp người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt;

đ) Đối với các trường hợp đã áp dụng quy định có lợi của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 theo Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29-6-2016 về việc lùi hiệu lực thi hành của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật thi

1. Xem khoan 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017. 

hành tam giū, tam giam số 94/2015/QH13 để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử mà Luật số 12/2017/QH14 không quy định là tội phạm nữa: nếu vụ án đã khởi tố, đang điều tra, truy tố, xét xử thì phải đình chỉ; trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt hoặc đang được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành phẩn hình phạt còn lại; trường hợp người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành toàn bộ hình phat;

e) Không xử lý về hình sự đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi về tội phạm không được quy định tại khoản 2 Điều 12 và khoản 3 Điều 14, đối với người thực hiện hành vi chuẩn bị phạm các tội không được quy định tại khoản 2 Điều 14 của Bộ luật này; nếu vụ án đã khởi tố, đang điều tra, truy tố, xét xử thì phải đình chỉ; trường hợp người đó đã bị kết án và đang chấp hành hình phạt hoặc đang được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành phẩn hình phạt còn lại; trường hợp người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành toàn bộ hình phat;

g) Người đã chấp hành xong hình phạt hoặc được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt hoặc phẩm hình phạt còn lại theo quy định tại các điểm d, đ và e khoản này thì đương nhiên được xóa án tích;

h) Thực hiện các quy định tại khoản 3 Điều 7 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b khoản 1 Điều này;

i) Áp dụng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để thi hành quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và các quy định khác của Bộ luật Hình sự có lợi cho người phạm tội.

So với Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 1999, Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 được bổ sung cụm từ “loại trừ trách nhiệm hình sự,” trước cụm từ “miễn hình phạt” (khoản 2 và khoản 3) và cụm từ “tha tù trước thời hạn có điều kiện,” trước cụm từ “xóa án tích” (khoản 3) để bảo đảm sự phù hợp với các quy định mới của Bộ luật này về loại trừ trách nhiệm hình sự và tha tù trước thời hạn có điều kiện.

Bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận

http://thuvienphapluat.vn

Luật sư

21f326ae11d79989c0c6

Nguồn: Bình luận khoa học BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 NXB Chính Trị Quốc Gia Sự Thật

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Hỏi đáp 24/7