Phân tích, bình luận Điều 2 BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung 2017

92f06e9a75ecfdb2a4fd

Phân tích, bình luận khoa học

Chương I

Điều khoản cơ bản

Chương I của Bộ luật Hình sự năm 2015 bao gồm các điều khoản quy định về nhiệm vụ của Bộ luật Hình sự (Điều 1); Cơ sở của trách nhiệm hình sự (Điều 2); Nguyên tắc xử lý (Điều 3); Trách nhiệm phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm (Điều 4). Đây là những quy định mang tính nguyên tắc thể hiện chính sách hình sự vừa kiên quyết, nghiêm minh, vừa khoan hổng, nhân đạo của Đảng và nhà nước Việt Nam trong đấu tranh phòng và chống tội phạm.

Các điều khoản cơ bản này không chỉ là cơ sở để xây dựng các chế định khác trong Phần chung và Phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự năm 2015 mà còn là căn cứ để áp dụng đúng và thống nhất các quy định của Bộ luật này trong điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự. So với Bộ luật Hình sự năm 1999, các quy định trong Chương I Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện một bước nhằm thể hiện đầy đủ hơn chính sách hình sự của Nhà nước ta hiện nay, phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế và yêu cầu nội luật hóa một số cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Điểu 2. Cơ sở của trách nhiệm hình sự

1. Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự

2. Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự.

Điều 2 quy định về cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với cá nhân, pháp nhân phạm tội và thể hiện nguyên tắc pháp chế của luật hình sự.

1. Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm của người phạm tội phải chịu những hậu quả pháp lý bất lợi về hành vi phạm tội của mình. Theo quy định này, thì một người chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi nguy hiểm cho xã hội mà họ có lỗi (do cố ý hoặc do vô ý) thực hiện, nếu hành vi đó được Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm. Quy định này loại trừ khả năng (không cho phép) áp dụng tương tự luật hình sự để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi mặc dù là nguy hiểm cho xã hội nhưng không được quy định là tội phạm.

2. Khoản 2 Điều này được bổ sung quy định về trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân phạm tội. Từ năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 2015, theo quan niệm truyền thống của khoa học luật hình sự Việt Nam thì “chủ thể của tội phạm chỉ có thể là cá nhân và vấn để truy cứu trách nhiệm hình sự chỉ đặt ra đối với cá nhân”. Việc quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân phạm tội là một bước phát triển mới trong lịch sử lập pháp hình sự cũng như trong khoa học luật hình sự Việt Nam nhằm hoàn thiện pháp luật hình sự, đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhu cầu hội nhập quốc tế và thực hiện các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Theo quy định này thì pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi “phạm một tội được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này”, cụ thể là các tội quy định tại các điểu 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196, 200, 203, 209, 210, 211, 213, 216, 217, 225, 226, 227, 232, 234, 235, 237, 238, 239, 242, 243, 244, 245, 246, 300 và 324 của Bộ luật này (xem bình luận Điều 76 Bộ luật Hình sự nǎm 2015).

3. Để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với cá nhân hay pháp nhân cần xác định hành vi của họ có thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm cụ thể (bao gồm: khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan của tội phạm) được quy định trong Bộ luật Hình sự. Yêu cầu này cũng áp dụng để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt hoặc đổng phạm được quy định ở Phẩn những quy định chung cũng như ở Phần các tội phạm của Bộ luật này. Nếu xác định được hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm nào đó trong Bộ luật Hình sự có nghĩa là hành vi này là hành vi phạm tội và cá nhân hay pháp nhân đã thực hiện hành vi đó phải chịu trách nhiệm hình sự. Ngược lại, nếu xác định hành vi đó không thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu (thiếu một dấu 1 hiệu nào đó) của cấu thành tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật này, thì hành vi đó không phải là tội phạm và cá nhân (pháp nhân) thực hiện hành vi đó không phải chịu trách nhiệm hình sự. Chính vì vậy, cấu thành tội phạm được coi là cơ sở pháp lý, là điều kiện cần và đủ của trách nhiệm hình sự’.

4. Quá trình xác định các dấu hiệu cấu thành tội phạm nào đó trong Bộ luật Hình sự đối với một hành vi nguy hiểm cho xã hội được gọi là xác định tội danh. Nếu hành vi nguy hiểm cho xã hội thỏa mãn các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm cụ thể trong Phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự, thì hành vi đã thực hiện được xác định theo tội danh của cấu thành tội phạm đó và người thực hiện hành vi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này (ví dụ: hành vi của người điều khiển xe máy gây tai nạn chết người thỏa mãn các dấu hiệu của tội phạm được quy định tại Điều 260, thì người điều khiển xe máy được xác định là phạm tội “vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 260 Bộ luật này).

5. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối với cá nhân, pháp nhân phạm tội phải tuân thủ các trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định: “Mọi hoạt động tố tụng hình sự phải được tiến hành theo quy định của Bộ luật này” (Điều 7 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015); “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật” (Điều 13 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015);…

So với Điều 2 Bộ luật Hình sự năm 1999, Điều 2 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung như sau:

– Nội dung Điều 2 Bộ luật Hình sự năm 1999 trở thành khoản 1 Điều 2 Bộ luật Hình sự nǎm 2015;

– Bổ sung mới khoản 2 quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thuong mai.

Bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận,

http://thuvienphapluat.vn

Luật sư

Bình luận Điều 3 BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung 2017

21f326ae11d79989c0c6

Nguồn: Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 NXB Chính Tri Quốc Gia Sự Thật

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Hỏi đáp 24/7