Phân tích, Bình luận Khoa học
Chương I
Điều khoản cơ bản
Chương I của Bộ luật Hình sự năm 2015 bao gồm các điều khoản quy định về nhiệm vụ của Bộ luật Hình sự (Điều 1); Cơ sở của trách nhiệm hình sự (Điều 2); Nguyên tắc xử lý (Điều 3); Trách nhiệm phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm (Điều 4). Đây là những quy định mang tính nguyên tắc thể hiện chính sách hình sự vừa kiên quyết, nghiêm minh, vừa khoan hổng, nhân đạo của Đảng và nhà nước Việt Nam trong đấu tranh phòng và chống tội phạm.
Các điều khoản cơ bản này không chỉ là cơ sở để xây dựng các chế định khác trong Phần chung và Phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự năm 2015 mà còn là căn cứ để áp dụng đúng và thống nhất các quy định của Bộ luật này trong điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự.
So với Bộ luật Hình sự năm 1999, các quy định trong Chương I Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện một bước nhằm thể hiện đầy đủ hơn chính sách hình sự của Nhà nước ta hiện nay, phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế và yêu cầu nội luật hóa một số cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Điểu 1. Nhiệm vụ của Bộ luật Hình sự
Bộ luật Hình sự có nhiệm vụ bảo vệ chủ quyển quốc gia, an ninh của đất nước, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền con người, quyền công dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật, chống mọi hành vi phạm tội; giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
Bộ luật này quy định về tội phạm và hình phạt.
Điều 1 quy định về nhiệm vụ của Bộ luật Hình sự năm 2015, cụ thể như sau:
1. Bảo vệ các khách thể (quan hệ xã hội) quan trọng nhất của đời sống xã hội bao gồm: chủ quyển quốc gia, an ninh của đất nước, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền con người, quyền công dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật, chống mọi hành vi phạm tội.
Đây là nhiệm vụ đầu tiên và quan trọng nhất của Bộ luật này thể hiện chính sách hình sự của Nhà nước hiện nay phù hợp với mục tiêu mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã để ra: “… kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa”’. Giữ vững hòa bình, ổn định, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; “nâng cao vị thế và uy tín của đất nước” 2 trong khu vực và thế giới, …
Quy định này là cơ sở để cụ thể hóa các hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm hại các khách thể được luật hình sự bảo vệ bị coi là tội phạm tại Điểu 8 của Bộ luật này. Bằng những biện pháp và phương tiện đặc thù (riêng biệt) của mình, Bộ luật Hình sự bảo vệ các quan hệ xã hội quan trọng này khỏi sự xâm hại của các hành vi phạm tội. Các chế tài hình sự (hình phạt) là những biện pháp mang tính cưỡng chế nhà nước nghiêm khắc nhất nhằm mục đích không chỉ trừng trị người phạm tội mà còn răn đe, phòng ngừa tội phạm có hiệu quả.
2. Giáo dục mọi người ý thức tôn trọng, tuân thủ và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, tích cực tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm thông qua các hình thức sau:
– Bảo vệ các lợi ích của cá nhân, của xã hội và của Nhà nước bằng việc đe dọa áp dụng hình phạt nếu thực hiện hành vi phạm tội xâm hại các lợi ích này;
– Áp dụng hình phạt và các biện pháp cưỡng chế khác đối với cá nhân, pháp nhân phạm tội (ngăn ngừa riêng) và răn đe đối với các thành viên khác trong xã hội (ngăn ngừa chung);
– Phổ biến, tuyên truyền Bộ luật Hình sự rộng rãi trong quần chúng nhân dân.
3. Phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm: với phương châm “phòng bệnh hơn chữa bệnh”, lấy “giáo dục phòng ngừa là chính” kết hợp với các biện pháp rǎn đe, xử lý nghiêm minh đối với các hành vi phạm tội nhằm giáo dục cải tạo người phạm tội trở thành công dân có ích cho xã hội và sớm hòa nhập với cộng đồng, Bộ luật Hình sự thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm dưới hai hình thức sau:
– Ngăn ngừa riêng đối với những cá nhân, pháp nhân đã phạm tội thông qua việc xét xử và áp dụng hình phạt cùng các biện pháp cưỡng chế khác, đồng thời tăng cường sự kiểm tra của xã hội đối với những đối tượng đã bị kết án nhằm ngăn ngừa họ phạm tội mới.
– Ngăn ngừa chung đối với các cá nhân, pháp nhân khác trong xã hội phạm tội bằng những quy định cấm của luật hình sự và khả năng áp dụng các chế tài hình sự (hình phạt) nếu họ thực hiện hành vi phạm tội.
4. Quy định về tội phạm và hình phạt: Bộ luật này quy định cụ thể các hành vi nguy hiểm cho xã hội nào xâm hại đến các khách thể mà luật hình sự bảo vệ là tội phạm, đồng thời quy định các chế tài (hình phạt) cụ thể cần áp dụng đối với cá nhân, pháp nhân phạm tội nhằm bảo đảm thực hiện tốt nhiệm vụ quan trọng nhất là bảo vệ chủ quyển quốc gia, an ninh của đất nước, chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền con người, quyền công dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật.
Việc quy định về tội phạm và hình phạt trong Bộ luật Hình sự không chỉ là căn cứ để các chủ thể tiến hành tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi phạm tội mà còn thể hiện rõ nội dung của nguyên tắc pháp chế: “Tội phạm và hình phạt phải được quy định trong Bộ luật Hình sự”.
So với Điều 1 Bộ luật Hình sự năm 1999, Điều 1 Bộ luật Hình sự nǎm 2015 có một số sửa đổi, bổ sung như sau:
– Đưa nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Bộ luật Hình sự là bảo vệ “chủ quyển quốc gia, an ninh của đất nước” nhằm nhấn mạnh vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng của chủ quyển quốc gia và an ninh của đất nước, bởi lẽ chủ quyển quốc gia, an ninh của đất nước là cơ sở để bảo đảm cho các quan hệ xã hội khác tổn tại và phát triển. Đồng thời xác định quyền con người là một đối tượng được luật hình sự bảo vệ cùng với các quyền công dân phù hợp với quy định của Hiến pháp nǎm 2013;
– Bỏ các cụm từ: “quyền làm chủ của nhân dân”, “Để thực hiện nhiệm vụ đó”, nhằm bảo đảm sự ngắn gọn, rõ ràng và chính xác nội dung quy định của điều luật, đồng thời bỏ cụm từ “đối với người phạm tội” cho phù hợp với quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015 về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại.
– Chuyển cụm từ “phòng ngừa” lên trước từ “đấu tranh” nhằm nhấn mạnh phương châm “phòng bệnh hơn chữa bệnh” trong nhiệm vụ này, đồng thời huy động sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội tích cực tham gia vào công tác phòng, chống tội phạm, giáo dục, cảm hóa người phạm tội.
Phân tich, phân tích, phân tích, phân tích, phân tích, phân tích, phân tích, phân tích, phân tích, phân tích, phân tích, phân tích, phân tích, phân tích, phân tích, phân tích, phân tích, phân tích, phân tích, phân tích, phân tích, phân tích, phân tích, phân tích.
Bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận,
Bình luận Điều 2 BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung 2017

Nguồn: Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 NXB Chính Trị Quốc Gia Sự Thật


