Bình luận Điều 3 BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung 2017

92f06e9a75ecfdb2a4fd

Bình luận khoa học

Chương I

Điều khoản cơ bản

Chương I của Bộ luật Hình sự năm 2015 bao gồm các điều khoản quy định về nhiệm vụ của Bộ luật Hình sự (Điều 1); Cơ sở của trách nhiệm hình sự (Điều 2); Nguyên tắc xử lý (Điều 3); Trách nhiệm phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm (Điều 4). Đây là những quy định mang tính nguyên tắc thể hiện chính sách hình sự vừa kiên quyết, nghiêm minh, vừa khoan hổng, nhân đạo của Đảng và nhà nước Việt Nam trong đấu tranh phòng và chống tội phạm.

Các điều khoản cơ bản này không chỉ là cơ sở để xây dựng các chế định khác trong Phần chung và Phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự năm 2015 mà còn là căn cứ để áp dụng đúng và thống nhất các quy định của Bộ luật này trong điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự. So với Bộ luật Hình sự năm 1999, các quy định trong Chương I Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện một bước nhằm thể hiện đầy đủ hơn chính sách hình sự của Nhà nước ta hiện nay, phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế và yêu cầu nội luật hóa một số cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Điều 3. Nguyên tắc xử lý

1. Đối với người phạm tội:

a) Mọi hành vi phạm tội do người thực hiện phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật;

b) Mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt giới tính, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phẩm, địa vị xã hội;

c) Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đổ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;

d) Nghiêm trị người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

Khoan hồng đốî với người tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố giác đồng phạm, lập công chuộc tội, tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra;

đ) Đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, thì có thể áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù, giao họ cho cơ quan, tổ chức hoặc gia đình giám sát, giáo dục;

e) Đối với người bị phạt tù thì buộc họ phải chấp hành hình phạt tại các cơ sở giam giữ, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội; nếu họ có đủ điều kiện do Bộ luật này quy định, thì có thể được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện;

g) Người đã chấp hành xong hình phạt được tạo điều kiện làm ăn, sinh sống lương thiện, hòa nhập với cộng đồng, khi có đủ điều kiện do luật định thì được xóa án tích.

2. Đối với pháp nhân thương mại phạm tội:

a) Mọi hành vi phạm tội do pháp nhân thương mại thực hiện phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật;

b) Mọi pháp nhân thương mại phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế;

c) Nghiêm trị pháp nhân thương mại phạm tội dùng thủ đoạn tinh vi, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng;

d) Khoan hồng đối với pháp nhân thương mại tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án,tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại gây ra, chủ động ngăn chặn hoặc khắc phục hậu quả xảy ra.

1. Điều 3 quy định nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội và pháp nhân thương mại phạm tội. Theo quy định này thì nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội cụ thể như sau:

a) Mọi hành vi phạm tội do người thực hiện phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật;

b) Mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt giới tính, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội;

c) Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đổ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;

d) Nghiêm trị người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

Khoan hồng đối với người tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố giác đồng phạm, lập công chuộc tội, tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án, ăn năn, hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra;

đ) Đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, thì có thể áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù, giao họ cho cơ quan, tổ chức hoặc gia đình giám sát, giáo dục;

e) Đối với người bị phạt tù thì buộc họ phải chấp hành hình phạt tại các cơ sở giam giữ, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội; nếu họ có đủ điều kiện do Bộ luật này quy định, thì có thể được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện;

g) Người đã chấp hành xong hình phạt được tạo điều kiện làm ăn, sinh sống lương thiện, hòa nhập với cộng đồng, khi có đủ điều kiện do luật định thì được xóa án tích.

2. Nguyên tắc xử lý đối với pháp nhân thương mại phạm tội cụ thể như sau:

a) Mọi hành vi phạm tội do pháp nhân thương mại thực hiện phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật: việc phát hiện kịp thời là cơ sở tiền đề cho các hoạt động điều tra làm rõ hành vi phạm tội, là căn cứ để xử lý vụ án một cách nhanh chóng, bảo đảm công minh, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm. Nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động phòng ngừa tội phạm, cảnh báo cho cá nhân, pháp nhân có ý định phạm tội từ bỏ ý định của mình đồng thời tạo sự yên tâm trong lao động, sản xuất, tin tưởng vào sự nghiêm minh, công bằng của pháp luật.

b) Mọi pháp nhân thương mại phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế: quy định này nhằm cụ thể hóa và bảo đảm sự phù hợp giữa quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 với quy định của Hiến pháp năm 2013: “Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo” (Điều 51) và các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 (Mục 2 Chương XIII “Quyền sở hữu”) về không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế. Điều đó có nghĩa là dù tồn tại dưới hình thức sở hữu nào (sở hữu nhà nước, sở hữu chung hay sở hữu riêng) và dưới thành phần kinh tế nào (kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, …) thì pháp nhân thương mại đều bình đẳng trước pháp luật, đều được pháp luật bảo hộ về quyền và lợi ích hợp pháp, đều có quyền và nghĩa vụ như nhau khi tham gia tố tụng, …

c) Nghiêm trị pháp nhân thương mại phạm tội dùng thủ đoạn tinh vi, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng: quy định này thể hiện thái độ kiên quyết của Nhà nước trong xử lý đối với các trường hợp pháp nhân thương mại phạm tội với thủ đoạn tinh vi, chuyên nghiệp hoặc cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

d) Khoan hồng đối với pháp nhân thương mại tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án,tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra, chủ động ngăn chặn hoặc khắc phục hậu quả xảy ra: quy định này thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước trong xử lý đối với các trường hợp pháp nhân thương mại phạm tội có thái độ hợp tác tích cực, tự nguyện sửa chữa, bổi thường, chủ động ngăn chặn và khắc phục hậu quả.

Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân. Cùng với việc truy cứu trách nhiệm hình sự của pháp nhân về một tội phạm cụ thể thì những cá nhân có liên quan đến việc thực hiện tội phạm của pháp nhân cũng phải chịu trách nhiệm hình sự.

So với Điều 3 Bộ luật Hình sự năm 1999, Điều 3 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung theo hướng cụ thể hóa đầy đủ và rõ ràng hơn chính sách hình sự vừa kiên quyết, nghiêm minh, vừa khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước trong xử lý đối với người phạm tội và pháp nhân thương mại phạm tội, cụ thể là:

– Bổ sung quy định về nguyên tắc xử lý đối với pháp nhân thương mại phạm tội (khoản 2) và chính sách khoan hồng đối với trường hợp người phạm tội và pháp nhân thương mại phạm tội “tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án”;

– Bổ sung từ “đặc biệt” sau từ “hậu quả” (điểm d); từ “đầu thú” sau cụm từ “người tự thú”; từ “trại giam” được thay bằng cụm từ “các cơ sở giam giữ”; cụm từ “nếu họ có nhiều tiến bộ thì xét để giảm việc chấp hành hình phạt” được thay bằng cụm từ “Nếu có đủ điều kiện do Bộ luật này quy định, thì có thể được xét giảm…, tha tù trước thời hạn có điều kiện” nhằm bảo đảm sự phù hợp với các quy định khác của Bộ luật này và các đạo luật khác có liên quan (Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật Thi hành án hình sự năm 2010, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015,…).

Bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận, bình luận.

http://thuvienphapluat.vn

Bình luận Điều 4 BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung 2017

Luật sư

21f326ae11d79989c0c6

Nguồn: Bình luận khoa học BLHS 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 NXB Chính Trị Quốc Gia Sự Thật

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Hỏi đáp 24/7