en vi

Thứ tư, 24/04/2019
Công ty Luật TNHH  Đào và Đồng nghiệp | Địa chỉ: Số 369, Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội | Điện thoại : (+84-24)3.557.9568*  Fax: (+84-24)3.557.9598 * Hotline: 0945.490.123

CPTPP với doanh nghiệp: Lợi ích hay thách thức?

Email In PDF

Tại Hội thảo "Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) với doanh nghiệp: Lợi ích hay thách thức?", vừa diễn ra tại Hà Nội, nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, doanh nghiệp cần chủ động trong "sân chơi" này.

CPTPP có hiệu lực với Việt Nam từ ngày 14/1/2019, mang đến nhiều cơ hội cho doanh nghiệp, song cũng đi kèm thách thức rất lớn. Các lĩnh vực, ngành hàng như dệt may, giày dép, cà phê, chè, hạt tiêu... sẽ được hưởng lợi nhiều từ CPTPP. Nhưng, lĩnh vực khác, chẳng hạn ôtô, thực phẩm, chăn nuôi… có thể phải chịu tác động từ các cam kết. Ngay cả đối với ngành dệt may, dù được cho là sẽ hưởng lợi nhiều nhất từ những ưu đãi thuế quan, song theo bà Bùi Kim Thùy - chuyên gia của Hội đồng kinh doanh Hoa Kỳ - ASEAN, ngành dệt may sẽ phải chịu tác động mạnh nhất từ các cam kết trong CPTPP.

Nguyên nhân, theo ông Trương Văn Cẩm - Phó Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam - việc phải nhập khẩu lượng lớn vải từ nước không tham gia CPTPP (Trung Quốc…), thì khó có thể tận dụng tốt ưu đãi thuế quan từ xuất xứ hàng hóa. Các thành viên CPTPP khác có ngành sản xuất vải phát triển sẽ tận dụng được tối đa ưu đãi, thậm chí có thể còn dùng cơ chế phòng vệ thương mại để bảo vệ sản xuất vải trong nước, điều này sẽ khiến doanh nghiệp may mặc Việt Nam phải đối mặt với áp lực cạnh tranh rất lớn. Bên cạnh đó, trình độ nguồn nhân lực ngành dệt may còn thấp, 76% vẫn là lao động phổ thông.

Để giải quyết "điểm nghẽn" trên, ông Trương Văn Cẩm cho rằng, ngoài cơ chế, chính sách của nhà nước, doanh nghiệp dệt may phải chủ động tìm hiểu kỹ cơ chế ưu đãi, cam kết trong CPTTP. Từ đó, xác định thế mạnh, điểm yếu để đưa ra chiến lược phát triển thích hợp; chú trọng đến đầu tư sản xuất vải (in, nhuộm, hoàn thiện) trong nước. Bên cạnh đó, cơ chế, chính sách của nhà nước cần hỗ trợ doanh nghiệp về quy hoạch, đất đai… để hình thành khu công nghiệp tập trung chuyên ngành lĩnh vực này.

Đối với ngành chăn nuôi, ông Nguyễn Cao Trí - Tổng giám đốc NS BlueScope Lysaght Việt Nam – khuyến nghị: Để sản phẩm chăn nuôi khai thác tốt thị trường CPTPP, doanh nghiệp cần chủ động liên kết với người chăn nuôi để tạo ra những vùng chăn nuôi trọng điểm theo chuỗi từ sản xuất, chế biến, đến phát triển thị trường tiêu thụ.

Ông Đỗ Văn Huệ - Ủy viên thường trực Câu lạc bộ Nông nghiệp CNC Việt Nam - cho biết, đa số doanh nghiệp nông nghiệp vẫn chưa chủ động được thị trường xuất khẩu, chủ yếu vẫn phải gia công sản phẩm cho đối tác nước ngoài, rất rủi ro, bị động. Để tận dụng cơ hội từ CPTPP, trước hết, doanh nghiệp nông nghiệp phải nghiên cứu, tìm hiểu kỹ nội dung cam kết trong CPTPP, từ đó đưa ra phương án tổ chức sản xuất, thị trường hợp lý...

Nguồn: “www.chinhphu.vn”

 

Thực thi CPTPP: Doanh nghiệp cần chuẩn bị như thế nào cho chứng nhận xuất xứ hàng hóa?

Email In PDF

Ngày 14/01/2019, Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) chính thức có hiệu lực thực thi đối với Việt Nam. Như vậy, cùng với 6 nước Mexico, Nhật Bản, Singapore, Australia, New Zealand và Canada, các cam kết trong CPTPP đã chính thức được áp dụng với các doanh nghiệp Việt Nam.

Mặc dù CPTPP khác với Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) ban đầu về 22 điều khoản, hầu hết các chương của CPTPP vẫn giữ nguyên, và một trong số đó là Chương 3 (Quy tắc xuất xứ và thủ tục xuất xứ).

Khi hiệp định được thực thi, các doanh nghiệp sẽ được tận dụng ưu đãi từ các mức thuế giảm và thực hiện các bước để chuẩn bị cho các thủ tục xuất xứ mới. Theo CPTPP, các yêu cầu chứng nhận xuất xứ ít nặng nề hơn, không yêu cầu một hình thức cụ thể, yêu cầu ít yếu tố dữ liệu hơn và cho phép tự chứng nhận xuất xứ. Nhiều doanh nghiệp sẽ thấy đây là tin tốt, và quá trình đơn giản hóa này sẽ tạo thuận lợi cho thương mại giữa 11 thành viên của hiệp định CPTPP. Tuy nhiên, để chứng minh cho các khiếu nại nếu phát sinh, doanh nghiệp nên chủ động chuẩn bị cho các yêu cầu mới và các thủ tục, bao gồm các yêu cầu lưu trữ hồ sơ, để cung cấp hỗ trợ đầy đủ cho các yêu cầu thuế quan ưu đãi trong CPTPP.

Quy tắc xuất xứ theo CPTPP khác với các thủ tục xuất xứ thông thường được sử dụng ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương theo các hiệp định ASEAN hiện có. Đối với các yêu cầu về ưu đãi thuế quan, các hiệp định ASEAN thường yêu cầu chứng nhận xuất xứ do chính phủ cấp. Theo CPTPP, các nhà nhập khẩu, nhà xuất khẩu và nhà sản xuất có thể tự chứng nhận xuất xứ hoặc yêu cầu nhà nhập khẩu, nhà xuất khẩu hoặc nhà sản xuất ký giấy chứng nhận xuất xứ. Ngoài ra, chứng chỉ tự chứng nhận xuất xứ của CPTPP yêu cầu ít yếu tố dữ liệu hơn những gì thường được yêu cầu theo các hiệp định ASEAN. Với lợi ích của việc tự chứng nhận và ít yếu tố dữ liệu đi kèm với một số rủi ro, điều này là do CPTPP cũng yêu cầu các thủ tục chứng thực giấy chứng nhận, tương tự như kiểm toán. Vì vậy, trong khi việc tự chứng nhận có thể hiệu quả và hợp lý hơn nhiều thì các doanh nghiệp sẽ phải đảm bảo các quy trình tuân thủ nội bộ được đưa ra để xác minh các điều kiện được hưởng ưu đãi và đủ hồ sơ.

Điều 3.27 của Chương 3 quy định rằng một bên nhập khẩu có thể tiến hành xác minh bất kỳ yêu cầu nào về hưởng thuế quan ưu đãi bởi một hoặc nhiều cách sau đây:

(i) yêu cầu bằng văn bản về thông tin từ nhà nhập khẩu hàng hóa;

(ii) yêu cầu bằng văn bản về thông tin từ nhà xuất khẩu hoặc nhà sản xuất hàng hóa;

(iii) trực tiếp tới xác minh tại cơ sở của nhà xuất khẩu hoặc nhà sản xuất hàng hóa; và

(iv) các thủ tục khác có thể được quyết định bởi bên nhập khẩu và bên có nhà xuất khẩu hoặc nhà sản xuất (Có các quy trình xác minh bổ sung đối với hàng dệt may).

Các quy định xác minh yêu cầu thông tin của nhà nhập khẩu, nhà xuất khẩu và nhà sản xuất. Điều này rất giống với văn bản của Hiệp định thương mại tự do giữa Hàn Quốc và Mỹ (KORUS). Và, theo KORUS, các yêu cầu về hưởng thuế quan ưu đãi thường được xác minh nghiêm ngặt. Hoạt động xác minh tương tự được thực hiện theo CPTPP, đặc biệt là ở các quốc gia coi thuế hải quan là một nguồn thu chính, đáng kể của chính phủ.

Để chuẩn bị cho các xác minh xem hàng hóa có đủ điều kiện được hưởng ưu đãi thuế quan trong CPTPP, các chuyên gia nghiên cứu khuyên các doanh nghiệp nên làm như sau:

(i) đảm bảo rằng các hợp đồng cung cấp với nhà nhập khẩu, nhà xuất khẩu và nhà sản xuất bao gồm các yêu cầu về chữ ký chứng nhận xuất xứ, như các điều khoản yêu cầu đối tác cung cấp chính xác các yếu tố dữ liệu tối thiểu cũng như đủ tài liệu để hỗ trợ tuân thủ quy định yêu cầu của nước xuất xứ;

(ii) tiến hành thẩm định đối với các nhà nhập khẩu, nhà xuất khẩu và nhà sản xuất để đảm bảo rằng các bên chứng nhận có đầy đủ tài liệu sản xuất và hồ sơ sản xuất;

(iii) đảm bảo rằng nhà xuất khẩu hoặc nhà sản xuất có thể và sẽ cung cấp tất cả thông tin dựa trên chứng nhận;

(iv) đảm bảo các nhà nhập khẩu lưu trữ đủ hồ sơ cho các khiếu nại/ kiểm tra;

(v) khi nhà nhập khẩu chứng nhận, đảm bảo nhà nhập khẩu lưu trữ đủ tài liệu để chứng minh nước xuất xứ.

Nguồn: “www.chinhphu.vn”

 

Việt Nam chính thức bước vào kỷ nguyên CPTPP

Email In PDF

Ngày 14/01/2019, Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) chính thức có hiệu lực với Việt Nam. Tác động của CPTPP tới nền kinh tế phụ thuộc rất lớn vào năng lực nắm bắt cơ hội và vượt qua thách thức của chính Việt Nam.

Hiệp định CPTPP đã chính thức có hiệu lực từ ngày 30/12/2018 đối với nhóm 6 nước đầu tiên hoàn tất thủ tục phê chuẩn Hiệp định, gồm Mexico, Nhật Bản, Singapore, New Zealand, Canada và Úc.

Đối với Việt Nam, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết về việc phê chuẩn Hiệp định CPTPP và các văn kiện có liên quan vào ngày 12/11/2018. Theo đó, Hiệp định sẽ có hiệu lực đối với Việt Nam từ ngày 14/1/2019.

Với những cam kết mang tính toàn diện, tiêu chuẩn cao và cân bằng, CPTPP sẽ giúp tăng cường mối liên kết cùng có lợi giữa các nền kinh tế thành viên và thúc đẩy thương mại, đầu tư và tăng trưởng kinh tế trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Hiệp định CPTPP tạo nên một khu vực kinh tế tự do khổng lồ, có phạm vi thị trường khoảng 500 triệu người dân và chiếm 13% GDP toàn cầu, bao gồm Nhật Bản là nền kinh tế lớn thứ ba trên thế giới. CPTPP thống nhất các quy định về đầu tư và dịch vụ đối với rất nhiều lĩnh vực, từng bước bãi bỏ thuế quan đối với các sản phẩm nông nghiệp và công nghiệp. Việc tham gia CPTPP về tổng thể là có lợi cho Việt Nam.

Tính toán của Trung tâm thông tin và dự báo kinh tế - xã hội quốc gia (Bộ Kế hoạch & Đầu tư) cho thấy, CPTPP sẽ giúp GDP Việt Nam tăng thêm 1,7 tỷ USD, hơn 4 tỷ USD xuất khẩu, tăng tương ứng 1,32% và 4,04% đến năm 2035.

Không chỉ mở ra những cơ hội mới về giao thương, CPTPP với những tiêu chuẩn cao còn tạo thêm động lực để Việt Nam cải cách thể chế kinh tế, cải thiện môi trường kinh doanh.

Nội dung chính của CPTPP

Hiệp định CPTPP gồm 7 Điều và 1 Phụ lục quy định về mối quan hệ với Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã được 12 nước gồm Úc, Brunei, Canada, Chile, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore và Việt Nam ký ngày 6/2/2016 tại New Zealand; cũng như xử lý các vấn đề khác liên quan đến tính hiệu lực, rút khỏi hay gia nhập Hiệp định CPTPP.

Theo Bộ Công Thương, về cơ bản, Hiệp định CPTPP giữ nguyên nội dung của Hiệp định TPP (gồm 30 chương và 9 phụ lục) nhưng cho phép các nước thành viên tạm hoãn 20 nhóm nghĩa vụ để bảo đảm sự cân bằng về quyền lợi và nghĩa vụ của các nước thành viên trong bối cảnh Hoa Kỳ rút khỏi Hiệp định TPP.

20 nhóm nghĩa vụ tạm hoãn này bao gồm 11 nghĩa vụ liên quan tới Chương Sở hữu trí tuệ, 2 nghĩa vụ liên quan đến Chương Mua sắm của Chính phủ và 7 nghĩa vụ còn lại liên quan tới 7 Chương là Quản lý hải quan và Tạo thuận lợi Thương mại, Đầu tư, Thương mại dịch vụ xuyên biên giới, Dịch vụ Tài chính, Viễn thông, Môi trường, Minh bạch hóa và Chống tham nhũng. Tuy nhiên, toàn bộ các cam kết về mở cửa thị trường trong Hiệp định TPP vẫn được giữ nguyên trong Hiệp định CPTPP.

Theo Vụ Chính sách thương mại đa biên (Bộ Công Thương), cơ hội và thách thức từ CPTPP, cái nào nhiều hơn sẽ phụ thuộc rất lớn vào năng lực nắm bắt cơ hội và vượt qua thách thức của chính Việt Nam. Xét về năng lực thì mỗi thời mỗi khác, mỗi ngành mỗi khác, nên trước khi một FTA được đưa vào thực thi, bao gồm cả TPP11, rất khó để nói cơ hội sẽ nhiều hơn hay thách thức sẽ nhiều hơn.

Tuy nhiên, nếu nhìn lại chặng đường hơn 20 năm đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế thì dường như Việt Nam đang nắm bắt được nhiều cơ hội hơn.

Đơn cử, khi lần đầu hội nhập với ASEAN vào năm 1995, xuất khẩu của ta mới hơn 5 tỷ USD. Cuối năm 2006, khi kết thúc đàm phán gia nhập WTO, xuất khẩu đã là 40 tỷ USD, tăng hơn 7 lần so với năm 1995. Đến 2018, xuất khẩu đã lên tới 245 tỷ USD, gấp 45 lần năm 1995 và hơn 6 lần năm 2006. Từ một nước nhập siêu kinh niên, ta đã chuyển sang xuất siêu từ năm 2012 và tới năm 2018 đã đạt giá trị xuất siêu trên 7 tỷ USD.

TPP11 sẽ mang lại một số cơ hội bởi đây là lần đầu tiên ta có quan hệ FTA với Canada, Mexico và Peru. Tuy nhiên, như mọi FTA khác, TPP11 không phải là "mỏ vàng lộ thiên".

"Đường đã thông nhưng xe có chạy được không và đi được bao xa còn tùy thuộc vào chất lượng xe và lượng xăng nhiều ít. Thị trường đã mở nhưng nếu không chủ động tìm hiểu, thâm nhập thì cũng không chiếm lĩnh được. Với kinh nghiệm của hơn 20 năm hội nhập và cạnh tranh, xuất khẩu lại luôn tăng nhanh hơn nhập khẩu, thật sự không có lý do để bi quan với TPP11, nhất là khi Canada, Mexico và Peru đều là những thị trường mà ta đang xuất siêu", đại diện Vụ Chính sách thương mại đa biên nhận định.

Nguồn: “www.chinhphu.vn”

 

Doanh nghiệp phía Nam nắm bắt cơ hội từ CPTPP

Email In PDF

Thực thi Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đang mang tới những cơ hội lớn cho các doanh nghiệp (DN) dệt may, da giày, thủy sản... Ngay đầu năm 2019, nhiều DN, hiệp hội ngành hàng đã sẵn sàng đón nhận cơ hội từ CPTPP.

Chia sẻ với phóng viên Báo Công Thương, ông Vũ Đức Giang - Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam khẳng định, CPTPP có hiệu lực sẽ có cơ hội ở nhiều thị trường mới. Diễn biến gần nhất trong quý III và quý IV/2018 cho thấy nhiều nhà nhập khẩu Úc, Canada, New Zealand đã đến với Việt Nam. Hay với thị trường Nhật Bản dù chúng ta đã thuận lợi khi ký VJFTA nhưng chúng ta đang có giải pháp nhằm chiếm lĩnh thị trường này khi CPTPP có hiệu lực.

Từ cơ hội này, theo Hội dệt May thêu đan TP. Hồ Chí Minh, các DN của thành phố đã có sự chuẩn bị và phấn khởi thực hiện kế hoạch sản xuất xuất khẩu ngay từ đầu năm 2019... Cụ thể, Tổng công ty 28 đã đàm phán và ký xong đơn hàng cho 6 tháng đầu năm 2019 thậm chí cả năm 2019. Hay Tổng công ty CP Phong Phú đã có sự chuẩn bị kỹ cho việc mở rộng thị phần tại thị trường Nhật Bản còn Công ty CP Sợi Thế Kỷ cũng đang tiếp tục với kế hoạch đẩy mạnh các mặt hàng sợi sang thị trường này…

Cùng với dệt may, các DN ngành thủy sản như Vĩnh Hoàn, Minh Phú, Hùng Vương… đều đã chuẩn bị từ rất lâu cho việc chinh phục các thị trường trong khối CPTPP. Ông Trương Đình Hòe - Tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) - cho biết, xác định khi thuế xuất giảm sẽ giúp sản phẩm thủy sản tăng cơ hội nhưng cũng đồng nghĩa với việc phải cạnh tranh gay gắt hơn với các nước xuất khẩu khác, do đó VASEP đang khuyến cáo các DN phải đáp ứng nghiêm ngặt các tiêu chuẩn từ an toàn vệ sinh thực phẩm, nâng cao chất lượng hàng hóa cho tới việc đánh bắt hải sản hợp pháp.

Ông Chu Tiến Dũng - Chủ tịch Hiệp hội DN TP. Hồ Chí Minh - cho hay, cộng đồng DN tham gia CPTPP đồng nghĩa với việc cạnh tranh sẽ diễn ra quyết liệt không chỉ ở thị trường các nước tham gia hiệp định mà ngay tại thị trường trong nước trên cả ba cấp độ sản phẩm, DN và quốc gia. Điều này đang tạo ra sức ép trong bối cảnh năng lực cạnh tranh quốc gia và của DN còn nhiều hạn chế, đó là trình độ phát triển của nước ta được xem là thấp nhất trong khối CPTPP…

Theo ông Phạm Bình An, Giám đốc Trung tâm hỗ trợ hội nhập quốc tế - TP. Hồ Chí Minh, để tận dụng các cơ hội DN rất cần nắm bắt được các thông tin cụ thể từ hiệp định. Cụ thể, DN muốn được hưởng các ưu đãi về thuế khi xuất khẩu vào 10 nước tham gia CPTPP thì ngay từ bây giờ phải nhanh chóng chuẩn bị những điều kiện để có thể đáp ứng các yêu cầu về xuất xứ hàng hóa. Cụ thể như hàng dệt may phải đảm bảo tỷ lệ nội địa hóa từ khâu sợi, còn nếu nhập khẩu nguyên liệu thì phải từ các nước trong khối...

Còn ông Võ Tân Thành - Phó Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - nêu ý kiến, cộng đồng DN cần phải chủ động thay đổi tư duy quản lý và kinh doanh, xây dựng chiến lược bài bản. Đẩy mạnh việc nâng cấp các yêu cầu bảo vệ sở hữu trí tuệ, cũng như năng lực thể chế để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của Việt Nam trong quá trình tham gia CPTPP. Việc cải cách môi trường kinh doanh tại Việt Nam càng phải nỗ lực mạnh mẽ hơn nữa để tạo sức bật cho phát triển.

Có thể thấy trong suốt 10 năm qua, Chính phủ, cộng đồng DN đã chuẩn bị cho việc tham gia vào hiệp định thương mại quan trọng này. Sự chuẩn bị về mặt thể chế, cải thiện môi trường đầu tư để khai thác tốt nhất lợi thế so sánh cũng đã và đang được thực hiện tích cực.

Nguồn: “www.chinhphu.vn”

 

Việt Nam, EU phối hợp hoàn tất Hiệp định VPA/FLEGT

Email In PDF

Theo bà Heidi Hautala, Phó Chủ tịch Nghị viện châu Âu, Hiệp định VPA/FLEGT với Việt Nam là hiệp định thứ hai tại châu Á mà EU đã ký kết, sau Indonesia. Đây là một bước đi quan trọng của EU trong việc xây dựng một chiến lược rộng hơn nhằm nâng cao đa dạng sinh học và phát triển bền vững tại châu Á và chống khai thác và thương mại gỗ bất hợp pháp.

Trong chuyến công tác tại Việt Nam từ ngày 7-9/1 của Đoàn công tác của Nghị viện châu Âu do bà Heidi Hautala, Phó Chủ tịch Nghị viện dẫn đầu, chiều ngày 7/1, Bộ NN&PTNT phối hợp cùng Đoàn công tác tổ chức họp báo xung quanh vấn đề phối hợp hoàn tất Hiệp định Đối tác tự nguyện về thực thi luật lâm nghiệp, quản trị rừng và thương mại lâm sản (VPA/FLEGT).

Theo bà Heidi Hautala, Phó Chủ tịch Nghị viện châu Âu, Hiệp định VPA/FLEGT với Việt Nam là hiệp định thứ hai tại châu Á mà EU đã ký kết, sau Indonesia. Đây là một bước đi quan trọng của EU trong việc xây dựng một chiến lược rộng hơn nhằm nâng cao đa dạng sinh học và phát triển bền vững tại châu Á và chống khai thác và thương mại gỗ bất hợp pháp. Việt Nam đã cam kết ban hành văn bản quy phạm pháp luật nhằm đảm bảo chỉ có gỗ được sản xuất hợp pháp nhập khẩu vào Việt Nam.

“Chúng ta cần đảm bảo nguồn gốc gỗ và sản phẩm gỗ hợp pháp khi vào EU. Việc xác định những quy định chi tiết, đặc biệt liên quan đến nhập khẩu là việc quan trọng trong thực hiện vấn đề này”, bà Heidi Hautala nhấn mạnh.

Bà Heidi Hautala cho rằng, Hiệp định sẽ tạo được tính minh mạch và lan tỏa trong chuỗi sản xuất cũng như với các quốc gia khác bởi EU đã và đang chuẩn bị ký hiệp định với 16 quốc gia khác. EU đang hướng tới sớm phê chuẩn hiệp định này với Việt Nam thời gian tới. Việt Nam cũng đã cam kết về lĩnh vực này trong khuôn khổ của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-EU (EVFTA). Vì vậy, việc triển khai Hiệp định VPA sẽ tạo thuận lợi cho các thảo luận về EVFTA.

Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Hà Công Tuấn cho biết: “Minh bạch hóa gỗ nhập khẩu được kiểm soát chuỗi cung từ các quốc gia khác là vấn đề rất được quan tâm trong suốt 6 năm đàm phán Hiệp định VPA/FLEGT vừa qua. Trên cơ sở thỏa thuận với EU và các đối tác khác về kiểm soát nguồn gốc, Việt Nam cũng đàm phán để có được những quy định hài hòa hóa kiểm soát chuỗi cung”.

“Với việc sửa Luật Lâm nghiệp, hiện nay Việt Nam đã chính thức đưa vào luật việc truy xuất nguồn gốc và kiểm soát chuỗi cung hợp pháp. Sau Luật, Bộ NN&PTNT đã trình Chính phủ 4 nghị định, Bộ ban hành 7 thông tư và có một thông tư chuyên đề về truy xuất và kiểm soát nguồn gốc gỗ để bắt đầu thực thi từ 1/1/2019”, Thứ trưởng Hà Công Tuấn nhấn mạnh.

Bà Heidi Hautala nhìn nhận việc quan trọng nhất là giám sát thực thi sau khi hiệp định được phê chuẩn. “Tại EU, vai trò của rừng rất quan trọng. Cùng với đó, doanh nghiệp kinh doanh và người dân ngày càng có nhu cầu tăng lên về sản phẩm được sản xuất hợp pháp và phù hợp với các tiêu chuẩn đạo đức”, bà Heidi Hautala nhấn mạnh.

* Trước đó, cũng trong ngày 7/1, tại Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có cuộc họp song phương với Đoàn công tác.

Tại cuộc họp, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) Nguyễn Xuân Cường đánh giá cao mối quan hệ hợp tác rất phát triển giữa Việt Nam và EU, đặc biệt trong lĩnh vực đầu tư. EU có trình độ quản trị tốt, đặc biệt là công nghệ rất cao, góp phần quan trọng thúc đẩy kinh tế Việt Nam. Mối quan hệ Việt Nam và EU ngày càng được mở rộng sâu sắc và có hiệu quả rất thiết thực.

Về phát triển bền vững, EU được coi là đối tác phát triển với hai trụ cột chính là kinh tế biển và phát triển rừng. Phát triển thủy sản và rừng cũng được coi là vấn đề quan trọng của Việt Nam.

Về lâm nghiệp, Việt Nam rất coi trọng vấn đề phát triển lâm nghiệp. Đến nay, Việt Nam đã có trên 14 triệu ha rừng; tỉ lệ che phủ rừng đạt 41,65%. Đây là tỉ lệ cao trong khu vực và thế giới, đặc biệt là so với trình độ nền kinh tế và địa hình của Việt Nam.

Việt Nam đang xây dựng ngành kinh tế lâm nghiệp với sự tham gia của 4.500 doanh nghiệp tham gia và chuỗi lâm sản. Năm 2018, Việt Nam đã chủ động được 80% nguyên liệu. Do đó, bước đầu xây dựng được ngành kinh tế lâm nghiệp với kim ngạch xuất khẩu trên 9 tỷ USD.

Nguồn: “www.chinhphu.vn”

 

Việt Nam - điểm đến của doanh nghiệp Nhật Bản

Email In PDF

Email Print Ông Takimoto Koji - Trưởng đại diện Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO) tại TP. Hồ Chí Minh - trả lời phỏng vấn phóng viên Báo Công Thương về kết quả cũng như xu hướng đầu tư của doanh nghiệp (DN) Nhật Bản tại Việt Nam.

Ông có thể cho biết một số nét tổng quát về hoạt động đầu tư của DN Nhật Bản tại Việt Nam thời gian qua?

Năm 2017, Nhật Bản là nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất của Việt Nam với con số kỷ lục 9,11 tỷ USD. 11 tháng năm 2018, Nhật Bản tiếp tục đứng vị trí thứ nhất với tổng vốn đầu tư đạt gần 8 tỷ USD, chiếm 25,9% tổng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Nổi bật nhất vẫn là ngành chế tạo, dịch vụ. Đến nay, tỷ lệ DN Nhật Bản đầu tư tại Việt Nam có lãi chiếm 65,1%; khoảng 70% DN Nhật Bản tại Việt Nam mong muốn tiếp tục đầu tư và mở rộng kinh doanh tại Việt Nam. Tỷ lệ này cao so với các quốc gia khác. Điều này khẳng định Việt Nam tiếp tục là địa điểm đầu tư quan trọng của nhà đầu tư Nhật Bản.

Thời gian qua, nhiều DN Nhật Bản tìm hiểu thị trường, mở rộng hệ thống phân phối hàng hóa tại Việt Nam, ông đánh giá như thế nào về xu hướng này?

Có thể thấy, hàng hóa Nhật Bản ngày càng phổ biến tại thị trường Việt Nam. Ngoài ra, với sự hỗ trợ mạnh mẽ của Chính phủ và các tổ chức xúc tiến của Nhật Bản như JETRO đã thúc đẩy DN Nhật Bản mở rộng đầu tư, kinh doanh ra nước ngoài. Khi tìm hiểu thị trường Việt Nam, DN đều đặt mục tiêu giới thiệu đến thị trường và người tiêu dùng những sản phẩm có chất lượng cao, và mong muốn tìm được đối tác để hợp tác kinh doanh, mở đại lý phân phối sản phẩm. Bên cạnh đó, DN Nhật cũng tìm kiếm các mặt hàng thế mạnh của Việt Nam, phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng Nhật.

Vậy còn DN Nhật Bản, mức độ hài lòng của họ về môi trường đầu tư tại Việt Nam như thế nào?

Môi trường đầu tư của Việt Nam được các DN Nhật Bản đánh giá cao, như về chính sách rõ ràng, pháp luật ổn định, nguồn lao động trẻ được đào tạo nghề nghiệp và có chuyên môn ngày càng nâng cao. Tuy nhiên, mức lương của lao động Việt Nam chỉ đứng thứ 6 tại Đông Nam Á, Thái Lan đứng đầu bảng.

DN Nhật đều nhận được sự hỗ trợ của nhiều cơ quan nhà nước trong việc thực hiện thủ tục hành chính, thuế, hải quan. Hệ thống cơ sở hạ tầng, hệ thống xử lý chất thải, mạng lưới điện trong khu công nghiệp khu chế xuất... được đầu tư hoàn chỉnh đã giúp DN hoàn toàn yên tâm khi quyết định đầu tư, triển khai nhanh dự án.

Nhận định của ông về triển vọng đầu tư của DN Nhật Bản tại Việt Nam thời gian tới?

Chúng tôi đánh giá cao tiềm năng phát triển kinh tế của Việt Nam và mong muốn tăng cường hợp tác đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam trong hiện tại và tương lai.

Việt Nam là một trong những nước đạt tỷ lệ tăng trưởng GDP cao nhất trong khối ASEAN. Nhiều DN Nhật Bản có ý định phát triển đầu tư bằng việc hợp tác với các công ty Việt Nam trên tinh thần đôi bên cùng có lợi. Bên cạnh đó, DN Nhật Bản cũng hy vọng có thể tìm kiếm DN Việt Nam có khả năng hợp tác lâu dài, tham gia vào các chuỗi cung ứng sản xuất, chế tạo cho nhà đầu tư Nhật Bản trên toàn cầu.

Xin cảm ơn ông!

Nguồn: “Báo Công Thương Điện Tử”

 

CPTPP: Nhiều cơ hội, không ít thách thức đối với doanh nghiệp Việt Nam

Email In PDF

Sáng 15/12 tại TP. Hồ Chí Minh, trong khuôn khổ đại hội của Hiệp hội Doanh nghiệp (DN) vừa và nhỏ khu vực phía Nam đã diễn ra hội thảo “Hội nhập quốc tế, các hiệp định FTA song phương và đa phương, CPTPP - Cơ hội và thách thức đối với các doanh nghiệp (DN) Việt Nam.”

Hội thảo tập trung làm rõ một số nội dung cam kết cơ bản trong CPTPP và ý nghĩa chiến lược của CPTPP đối với Việt Nam và cộng đồng DN, cũng như chia sẻ các khó khăn thách thức mà DN phải đối mặt, đồng thời làm thế nào để có thể khai thác tốt các cơ hội mang lại.

Ngày 12/11/2018, Quốc hội đã chính thức thông qua Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) cùng các văn kiện liên quan, với 100% đại biểu có mặt tán thành. Như vậy, với quyết định của Quốc hội, Việt Nam là quốc gia thứ 7 phê chuẩn CPTPP - một trong những hiệp định thương mại tự do chất lượng cao, toàn diện với mức độ cam kết sâu nhất từ trước đến nay.

Cho đến nay các nước CPTPP đang chiếm tỷ trọng khoảng 15,7% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam và chiếm khoảng 16% kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam nên sẽ tạo ra thị trường lớn về thương mại cho Việt Nam. Ngoài ra các nước CPTPP đang đầu tư vào Việt Nam khoảng 112 tỷ USD, tương đương 15% tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam, sẽ tạo điều kiện cho các dòng vốn FDI cũng như đầu tư gián tiếp thông qua hoạt động mua cổ phần, mua bán sáp nhập tiếp tục có cơ hội tăng trưởng.

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh - Thành viên Ủy ban chính sách phát triển của Liên hiệp quốc cho biết - tham gia CPTPP thể hiện mạnh mẽ chủ trương chủ động hội nhập quốc tế của Đảng, Nhà nước, khẳng định vai trò và vị thế địa - chính trị quan trọng của Việt Nam trong khu vực cũng như trên trường quốc tế. CPTPP cũng nhằm thực hiện đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế thương mại, tránh phụ thuộc vào một thị trường lớn nào. CPTPP cũng sẽ thúc đẩy quá trình cải cách trong nước của Việt Nam, mở rộng thị trường xuất khẩu, song cũng gia tăng cạnh tranh gay gắt trên thị trường trong nước.

CPTPP sẽ có hiện lực từ ngày 30/12/2018 với những nước đã thông qua trong đó có Việt Nam là nước thứ 7 đã thông qua sau Mexico, Nhật Bản, Singapore, Australia, New Zealand và Canada. Từ phía Quốc hội Việt Nam khi thực thi CPTPP cũng kiến nghị sửa đổi, bổ sung 12 văn bản gồm: 8 luật, 4 Nghị định của Chính phủ, kiến nghị ban hành 7 văn bản mới- Tiến sĩ Doanh cho biết thêm.

Tuy nhiên, khi tham gia CPTPP cũng không phủ nhận thách thức mà các DN Việt Nam phải đối mặt, đặc biệt là DN nhỏ và vừa sẽ là rất lớn khi hàng hóa DN nước ngoài xâm nhập thị trường nội địa. Hơn nữa, khả năng thích nghi của các DN Việt với nền kinh tế thị trường còn kém nên những thách thích, khó khăn ngay tại sân nhà cũng vì thế mà tăng cao. Ngoài ra, đó còn là thách thức liên quan đến năng lực cạnh tranh, quản trị điều hành, liên quan đến minh bạch, công nghệ thông tin, sở hữu trí tuệ và nguồn nhân lực - Ông Chu Tiến Dũng - Chủ tịch Hiệp hội DN TP. Hồ Chí Minh chia sẻ.

Thời gian thực thi CPTPP đã cận kề, để hưởng các lợi thế từ hiệp định trên, nhiều DN đang gấp rút tìm cách đáp ứng được các điều kiện đi kèm là chất lượng, xuất xứ hàng hóa, nơi sản xuất, lao động, môi trường. Đây cũng là cơ hội để các DN, các tỉnh, thành thu hút đầu tư nước ngoài với ngành công nghiệp hỗ trợ để tăng tỷ lệ nội địa hóa cho sản phẩm, rộng thị trường xuất khẩu.

Hơn bao giờ hết các DN Việt cần phải nhanh chóng tiếp cận, tìm hiểu rõ điều khoản của CPTPP để đánh giá được cơ hội và thách thức với chính ngành nghề của mình, DN của mình, từ đó có những chiến lược, giải pháp phù hợp trong cạnh tranh, khai thác được các cơ hội mà CPTPP mạng lại.

Nguồn: “www.chinhphu.vn”

 

Các nước ASEAN chung mục tiêu phát triển

Email In PDF

Tối 11/12/2018, Bộ Ngoại giao Indonesia đã tổ chức cuộc gặp các quan chức ngoại giao, Ban Thư ký ASEAN, các Đại sứ, đại diện các phái đoàn thường trực tại ASEAN, đại diện các tổ chức của ASEAN (Trung tâm AHA, Quỹ ASEAN, AIPR, AICHR).

Cuộc họp nhằm cung cấp thông tin cập nhật về tiến trình phát triển của ASEAN trong bối cảnh hiệp hội đang có những bước tiến mới hướng tới một Cộng đồng ASEAN phát triển bền vững và vì người dân.

Theo TTXVN, phát biểu tại cuộc họp, ông Jose Tavares, Tổng Vụ trưởng Vụ Hợp tác ASEAN, Trưởng SOM ASEAN của Indonesia, tái khẳng định ASEAN từ một khu vực xung đột trước đây đang ngày càng phát triển, trở thành một khu vực hòa bình và ổn định, thịnh vượng.

Điểm lại những bước tiến đáng ghi nhận trong năm 2018 của hiệp hội, ông Tavares nhấn mạnh các quốc gia ASEAN có sự hợp tác rất chặt chẽ về chính trị, an ninh, kinh tế cũng như trong lĩnh vực văn hóa - xã hội. Ông nêu rõ trong năm nay, với vai trò là Chủ tịch ASEAN, Singapore cũng đã có rất nhiều ý tưởng để thúc đẩy phát triển ASEAN, đồng thời đây cũng là năm đánh dấu sự ra đời ý tưởng thành lập các thành phố thông minh của ASEAN để ASEAN hướng về phía trước.

Về quy mô, ASEAN là nền kinh tế lớn thứ sáu trên thế giới. Trong 25 năm kể từ 1990, tỷ lệ nghèo đói đã giảm từ 47% xuống 14%. Hiện tại, nhiều nền kinh tế trong khu vực vẫn tăng trưởng tương đối ổn định bất chấp các thách thức như căng thẳng thương mại Mỹ - Trung hay áp lực nặng nề từ các thị trường mới nổi.

Trong năm 2018, các quốc gia thành viên ASEAN và 6 nước đối tác đã triển khai thành công và đạt được nhiều tiến bộ đáng kể khi hình thành khu vực thương mại mậu dịch tự do lớn nhất thế giới trong bối cảnh còn nhiều rào cản gây khó khăn cho quá trình toàn cầu hóa và tự do thương mại.

Tại Hội nghị cấp cao ở Singapore vừa qua cũng như các hội nghị trong năm 2018, hầu hết các vấn đề về phát triển đều được đưa ra bàn thảo, cho thấy nỗ lực chung của các nước hướng tới mục tiêu thúc đẩy hiệp hội phát triển trong tương lai./.

Nguồn: “www.chinhphu.vn”

 

Hiệp định CPTPP tạo nền tảng để kinh tế tăng trưởng và phát triển mạnh mẽ

Email In PDF

Đây là khẳng định của Tổng Thư ký - Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc tại chương trình phiên họp thứ 29 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về tổng kết kỳ họp thứ 6 và cho ý kiến bước đầu về việc chuẩn bị kỳ họp thứ 7 của Quốc hội khóa XIV, diễn ra ngày 11/12.

Để lại những dấu ấn quan trọng

Trình bày Dự thảo báo cáo tổng kết kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIV, Tổng Thư ký - Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc cho biết, Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIV diễn ra trong bối cảnh đất nước ta đã đi qua nửa chặng đường của nhiệm kỳ 2016-2021 với những chuyển biến mạnh mẽ; cả hệ thống chính trị, các ngành, các cấp, các địa phương và cộng đồng doanh nghiệp đang nỗ lực phấn đấu hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII đã đề ra. Bên cạnh đó, tình hình quốc tế và khu vực có những diễn biến khó lường, tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Kỳ họp này cũng là dịp để Quốc hội đánh giá những kết quả đã đạt được, thảo luận, ban hành những quyết sách quan trọng để thúc đẩy hơn nữa cho quá trình phát triển đất nước trong thời gian tới. Quốc hội đã lắng nghe, ghi nhận ý kiến, kiến nghị của cử tri, nhân dân cũng như kịp thời nắm bắt xu thế chung của thế giới, biến động tình hình trong nước, đồng thời tiếp tục phát huy tinh thần đổi mới, sáng tạo để có những quyết sách đúng đắn, hợp lòng dân.

Tổng Thư ký - Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc khẳng định, sau 22,5 ngày làm việc, Quốc hội đã hoàn thành nội dung chương trình kỳ họp thứ 6 và để lại những dấu ấn quan trọng, tạo đà cho đất nước phát triển bền vững trong những năm sắp tới. Kết quả kỳ họp tiếp tục khẳng định trách nhiệm, sự nỗ lực, quyết tâm cao, ghi nhận những đổi mới trong công tác chuẩn bị và tiến hành kỳ họp của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ và các cơ quan, tổ chức hữu quan, bảo đảm hoạt động của Quốc hội ngày càng dân chủ, công khai, minh bạch, gắn bó với nhân dân, được nhân dân giám sát chặt chẽ.

Trong đó, nổi bật tại kỳ họp thứ 6, với sự tín nhiệm rất cao, Quốc hội đã bầu Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng giữ chức vụ Chủ tịch nước. Đây là sự kiện chính trị quan trọng của đất nước ta, đáp ứng mong muốn, nguyện vọng của cử tri và nhân dân cả nước, được dư luận trong nước và quốc tế quan tâm. Bên cạnh đó, Quốc hội đã phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về nhân sự thành viên Chính phủ.

Về công tác lập pháp, 9 luật được thông qua với tỷ lệ tán thành cao, cho thấy sự chỉ đạo rất sát sao của lãnh đạo Quốc hội, các Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, sự cố gắng của các cơ quan trong việc chuẩn bị nội dung và bảo đảm quy trình, thủ tục theo luật định. Quốc hội cũng đã phê chuẩn Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) với 100% đại biểu Quốc hội có mặt biểu quyết tán thành. Việc phê chuẩn Hiệp định này có ý nghĩa quan trọng đối với tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam, tạo nền tảng để kinh tế Việt Nam có thể tăng trưởng và phát triển mạnh mẽ hơn trong giai đoạn tới.

Bên cạnh đó, phiên chất vấn có tới 19 Bộ trưởng, Trưởng ngành cùng 2 Phó Thủ tướng Chính phủ trả lời chất vấn, nhiều nhất từ đầu nhiệm kỳ đến nay. Cuối phiên chất vấn, Thủ tướng Chính phủ đã có phát biểu làm rõ thêm một số nội dung thuộc trách nhiệm của Chính phủ và trực tiếp trả lời một số đại biểu có chất vấn đối với Thủ tướng. Quốc hội cũng đã hoàn thành lấy phiếu tín nhiệm đối với 48 người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn...

Phát huy tính tích cực, chủ động

Về một số nội dung cần quan tâm, chỉ đạo trong thời gian tới, Tổng Thư ký - Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc cho rằng, cần xây dựng kế hoạch, khẩn trương tổ chức triển khai thực hiện các luật, nghị quyết vừa được Quốc hội thông qua, sớm ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành luật, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, góp phần đưa luật sớm đi vào cuộc sống.

Bên cạnh đó, tiến hành rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan để kiến nghị cơ quan có thẩm quyền kịp thời sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật và đúng lộ trình thực hiện các cam kết trong Hiệp định CPTPP.

Đồng thời, thường xuyên giám sát việc thi hành luật, nghị quyết; tiếp tục nghiên cứu, chỉnh lý hoàn thiện các dự án luật đã được Quốc hội cho ý kiến; thực hiện tốt công tác chuẩn bị các nội dung trình Quốc hội tại kỳ họp sau. Các vị đại biểu Quốc hội tiếp tục phát huy, kịp thời báo cáo kết quả kỳ họp, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của cử tri và nhân dân, nghiên cứu, tìm hiểu, nắm bắt thực tiễn đời sống xã hội để kịp thời phản ánh, kiến nghị với Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan hữu quan và tích cực chủ động hơn nữa trong công tác lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng…

Về dự kiến Chương trình kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XIV, Tổng Thư ký - Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc cho hay, công tác xây dựng pháp luật tiến hành trong 10,5 ngày, trong đó xem xét thông qua 6 dự án luật gồm: Luật Giáo dục (sửa đổi), Luật Kiến trúc, Luật Quản lý thuế (sửa đổi), Luật sửa đổi - bổ sung một số điều của Luật Đầu tư công, Luật Thi hành án hình sự (sửa đổi), Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia; 1 dự thảo nghị quyết (3,75 ngày).

Bên cạnh đó, cho ý kiến 9 dự án luật (6,75 ngày); các vấn đề kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước, giám sát và các vấn đề quan trọng khác: 9,75 ngày.

Như vậy, dự kiến tổng thời gian tiến hành kỳ họp thứ 7, Quốc hội khoá XIV là 20,25 ngày; họp phiên trù bị và khai mạc vào ngày 20/5/2019, bế mạc vào ngày 17/6/2019.

Tổng Thư ký - Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội chỉ đạo các cơ quan hữu quan tiếp tục nghiên cứu, đề xuất các giải pháp đổi mới, cải tiến để nâng cao chất lượng, hiệu quả kỳ họp. Đồng thời, tiếp tục phát huy tính tích cực, chủ động, đề cao hơn nữa trách nhiệm chuẩn bị nội dung, bảo đảm chất lượng, tiến độ, gửi tài liệu đúng thời gian theo quy định.

Nguồn: “www.chinhphu.vn”

 

Doanh nghiệp châu Âu “hối thúc” phê chuẩn EVFTA

Email In PDF

Gần 80% doanh nghiệp châu Âu tham gia khảo sát của Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) tin rằng Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-EU (EVFTA) sẽ giúp Việt Nam tăng tính cạnh tranh.

Trong đó có 72% doanh nghiệp châu Âu đánh giá Việt Nam sẽ trở thành cánh cổng giao thương cho các DN châu Âu trong khu vực Đông Nam Á.

Báo cáo "Hiệp định Thương mại tự do EU - Việt Nam (EVFTA): Góc nhìn từ Việt Nam" của EuroCham, công bố ngày 9/10, tại Bỉ, cho thấy ngoài tác động tích cực về mặt kinh tế, doanh nghiệp thành viên EuroCham nhận định EVFTA sẽ cải thiện các vấn đề xã hội và môi trường tại Việt Nam, từ chuyển giao kiến thức và nâng cao lực lượng lao động địa phương cho đến quyền lợi người lao động.

Gần như tất cả các doanh nghiệp châu Âu mong đợi EVFTA sẽ thông qua và được thực thi vào năm 2019 hoặc sớm nhất có thể. Có những cơ sở thực tế cho thấy, EVFTA đem lại lợi ích đôi bên cho châu Âu và Việt Nam; trong đó, có 85% doanh nghiệp dự đoán EVFTA sẽ có tác động đáng kể hoặc vừa phải đến kế hoạch kinh doanh và đầu tư của họ trong dài hạn.

Đáng chú ý, khảo sát Chỉ số môi trường kinh doanh (BCI) quý II/2018 của EuroCham cũng thể hiện sự lạc quan của cộng đồng doanh nghiệp châu Âu, khi đánh giá tình hình kinh doanh tại Việt Nam.

Có 70% doanh nghiệp tham gia khảo sát phản hồi kết quả kinh doanh quý vừa rồi là tích cực. Cụ thể, 65% phản hồi “tốt”, 12% phản hồi “xuất sắc”. Khi khảo sát doanh nghiệp về dự đoán tình hình kinh doanh sắp tới, 64% phản hồi “tốt’ và 15% phản hồi “xuất sắc”.

Các thành viên EuroCham cũng rất lạc quan về triển vọng kinh tế vĩ mô, khi khảo sát về kỳ vọng kinh tế vĩ mô trong quý tới, 57% phản hồi “ổn định và cải thiện”, 34% “không thay đổi”, chỉ có 10% “suy thoái”. Trong khi đó, hơn phân nửa (57%) doanh nghiệp phản hồi rằng sẽ “tăng đáng kể” và “tăng nhẹ” lượng nhân lực. Ghi nhận của các chuyên gia cho thấy đây là mức lạc quan cao nhất trong vòng 2 năm trở lại đây.

Ông Nicolas Audier, đồng Chủ tịch EuroCham cho biết, các thành viên EuroCham tin tưởng EVFTA tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam có thể nâng cao năng lực cạnh tranh so với các nước khác như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc...

Song song đó, các kết quả tích cực của doanh nghiệp thành viên EuroCham cũng cho thấy, những hoạt động cải cách và đổi mới được thực thi tại Việt Nam đã nhận được sự đồng thuận của cộng đồng doanh nghiệp và mang lại cơ hội cho Việt Nam hội nhập sâu hơn vào cộng đồng quốc tế, cũng như nền kinh tế toàn cầu.

EVFTA là một hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, đây được xem là một hiệp định tham vọng nhất mà EU từng ký với một quốc gia đang phát triển.

Theo các chuyên gia kinh tế, việc phê duyệt và đưa vào thực thi EVFTA sẽ mang đến những lợi ích to lớn cho hoạt động đầu tư và thương mại giữa liên minh châu Âu và Việt Nam.

Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam ước tính tăng 0,5% mỗi năm, kim ngạch xuất khẩu ước tính tăng trong khoảng 4 - 6% mỗi năm.

Nếu xu hướng này được duy trì đến năm 2020, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đến liên minh châu Âu sẽ tăng khoảng 2,6 tỷ USD, và đến năm 2025, EVFTA được kỳ vọng thúc đẩy tăng trưởng GDP thêm 7 - 8% theo xu hướng tăng trưởng hiện tại.

Sự kiện công bố Báo cáo “Hiệp định Thương mại tự do EU - Việt Nam: Góc nhìn từ Việt Nam” nằm trong chuỗi các hoạt động của đoàn công tác EuroCham tại Bỉ nhằm thúc đẩy việc phê chuẩn của EVFTA.

Trong tuần này, đoàn công tác EuroCham gồm đại diện các doanh nghiệp châu Âu sẽ gặp gỡ các lãnh đạo cấp cao của Nghị viện châu Âu và Ủy ban châu Âu nhằm nhấn mạnh các tác động tích cực của EVFTA không chỉ đối với thương mại, đầu tư song phương mà còn cả lĩnh vực xã hội và môi trường của Việt Nam.

Nguồn: “www.chinhphu.vn”

 

Thúc đẩy thương mại về nông, lâm, thủy sản giữa các nước ASEAN+3

Email In PDF

Ngày 10/10, tại Hà Nội, Hội nghị các quan chức cấp cao nông lâm nghiệp ASEAN +3 (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc) đã khai mạc chuẩn bị cho Hội nghị Bộ trưởng nông, lâm nghiệp ASEAN+3 (AMAF+3) lần thứ 18 dự kiến diễn ra ngày 12/10.

Ông Trần Kim Long, Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ NN&PTNT cho biết, các bên đã thực hiện thành công Chiến lược Hợp tác ASEAN+3 về lương thực, nông nghiệp và lâm nghiệp trong giai đoạn 2011-2015. Do vậy, các nhà lãnh đạo AMAF+3 sẽ thực hiện một Chiến lược Hợp tác ASEAN+3 trong giai đoạn 2016-2025.

Chiến lược này được phát triển để mang lại những hành động chung với mục tiêu đảm bảo an ninh lương thực và đời sống của người dân. Đồng thời, khuyến khích sự phát triển bền vững trong các lĩnh vực nông lâm nghiệp, tăng cường hoạt động thương mại nông lâm sản, khắc phục những khó khăn và thách thức trong lĩnh vực này mà các nước thành viên ASEAN+3 đang phải đối mặt. Chiến lược hợp tác mới này được đưa ra để góp phần hướng tới sự nhận thức về Cộng đồng ASEAN 2025 và thúc đẩy sự hợp tác ASEAN+3 trên các lĩnh vực ưu tiên mà các bên cùng quan tâm.

Các dự án hợp tác của ASEAN+3 đã góp phần hỗ trợ các nước thành viên thực hiện các mục tiêu phát triển như: xây dựng năng lực, thu hẹp khoảng cách phát triển, giảm nghèo, thúc đẩy thương mại về nông lâm thủy sản giữa các nước ASEAN+3.

Tại hội nghị, các đại biểu sẽ nghe Báo cáo về các hoạt động hợp tác của ASEAN+3 trong lĩnh vực lương thực, nông nghiệp và lâm nghiệp.

Các bên cũng sẽ thảo luận Nghị định thư sửa đổi Hiệp định Quỹ dự trữ gạo khẩn cấp ASEAN + 3 (APTERR) cũng như các nội dung cho Bản ghi nhớ giữa Chính phủ các nước thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á và Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về hợp tác Nông nghiệp và Thực phẩm; Bản ghi nhớ giữa các nước thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á và Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên Hợp Quốc về tăng cường hợp tác nông nghiệp và lâm nghiệp dự kiến sẽ ký kết vào ngày 12/10.

Nguồn: “www.chinhphu.vn”

 

Mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam – Belarus

Email In PDF

Gần 60 doanh nghiệp hàng đầu của Belarus đã đến TP. Hồ Chí Minh để tìm kiếm cơ hội kinh doanh. Các doanh nghiệp này đã giới thiệu những sản phẩm là thế mạnh của Belarus như: phương tiện phục vụ trong nông nghiệp và cho đô thị; những phát triển mới nhất trong sản xuất dược phẩm, thực phẩm và đồ uống…

Theo Văn phòng Trung ương các Hoạt động Kinh tế nước ngoài của Bộ Nông nghiệp và Thực phẩm Cộng hòa Belarus, Belarus vẫn tiếp tục coi Việt Nam là đối tác quan trọng trong khu vực và mong muốn tiếp tục thúc đẩy thực hiện các dự án trọng điểm giữa hai nước. Chính phủ Belarus cũng đã có văn bản yêu cầu thúc đẩy thương mại với Việt Nam nhằm đạt 500 triệu USD kim ngạch thương mại 2 chiều vào năm 2019.

Ông Aleksey Bogdanov - Trưởng Văn phòng Trung ương các Hoạt động Kinh tế nước ngoài Bộ Nông nghiệp và Thực phẩm Cộng hòa Belarus chia sẻ, Belarus đánh giá cao thị trường ngành thực phẩm và đồ uống tại Việt Nam

“Qua tìm hiểu, chúng tôi đang tăng cường nỗ lực của mình trong việc thành lập một công ty liên doanh tại Việt Nam. Doanh nghiệp này sẽ cho ra đời các sản phẩm từ sữa (sữa bột và bột nước sữa) dựa trên công nghệ mới nhất từ hệ thống máy móc Belarus mang sang. Theo lịch trình, cuối năm nay, chúng tôi sẽ bắt đầu khởi công xây dựng nhà máy. Bằng cách đó, chúng tôi mong muốn mở rộng sự hiện diện các sản phẩm Belarus trên thị trường Việt Nam” - ông Aleksey Bogdanov cho hay.

Dựa trên những tiềm năng mà hai bên sẵn có, Belarus đã tổ chức đoàn doanh nghiệp tham gia hội chợ Vietnam Expo 2018 tại TP. Hồ Chí Minh. Đáng chú ý, trong lần tới Việt Nam lần này, Belarus là khách mời danh dự và kỳ vọng sẽ mở ra những hợp tác ở mức cao hơn với các doanh nghiệp, đặc biệt tại khu vực phía Nam.

Một loạt các thương hiệu lớn là nòng cốt tạo dựng nền kinh tế Belarus như: BELAZ, MAZ, MTZ, Belshina, BelFert, Belmed, Borimed, Bellakt, Kommunarka… hiện đã có mặt tại TP. Hồ Chí Minh để trực tiếp giao thương với doanh nghiệp Việt Nam.

Nguồn: “www.chinhphu.vn”

 

Kết nối hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam với quốc tế

Email In PDF

Trong khuôn khổ sự kiện Techfest 2018, chiều 30/11 tại Đà Nẵng đã diễn ra chương trình kết nối với hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo quốc tế nhằm tạo cầu nối tiếp xúc, tiếp cận giữa hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo Việt Nam với quốc tế, học hỏi kinh nghiệm, tiếp thu những kiến thức từ quốc tế.

Tham gia chương trình, các start-up cùng các bạn trẻ Việt Nam đã được nghe đại diện các nước, tập đoàn lớn thế giới chia sẻ bức tranh toàn cảnh hệ sinh thái khởi nghiệp của các quốc gia như Việt Nam, Singapore, Malaysia, Australia, New Zealand, Đức, Isarel, Thái Lan...

Chương trình còn trao đổi, thảo luận về các chủ đề như chính sách, pháp lý phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo; chiến lược phát triển năng lượng sạch; công nghệ Blockchain; xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo thông qua thành phố thông minh; giới thiệu về sáng kiến trung tâm hỗ trợ đổi mới sáng tạo Internet vạn vật.

Tại đây, Mạng lưới nhà đầu tư Thiên thần Việt Nam cũng đã ra mắt.

Đây là cộng đồng các nhà đầu tư không chỉ cung cấp nguồn tài chính mà còn hỗ trợ cố vấn, kết nối start-up, hệ sinh thái Việt Nam với hệ sinh thái và nhà đầu tư thiên thần trong nước và quốc tế.

Cũng trong khuôn khổ chương trình, Ban Tổ chức đã công bố sáng kiến “Nền tảng đổi mới sáng tạo mở Việt Nam - Open Innovation Initiative”; sáng kiến “Nền tảng kết nối dịch vụ hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo Việt Nam - The Startup Umbrella Initiative”

Đây là những giải pháp giúp kết nối start-up Việt Nam với nhà đầu tư, các doanh nghiệp hàng đầu thế giới. Thông qua sáng kiến nền tảng đổi mới sáng tạo mở, các doanh nghiệp sẽ kết nối nhiều hơn nữa những tài năng trên toàn thế giới, kết hợp với các nhà khoa học, các chuyên gia công nghệ, các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài tạo thành nguồn lực mới và bền vững...

Dịp này, Mạng lưới nhà đầu tư Thiên thần Việt Nam đã ký kết thỏa thuận hợp tác với Mạng lưới nhà đầu tư thiên thần Đông Nam Á và Mạng lưới nhà đầu tư Thiên thần Malaysia.

Nguồn: “www.chinhphu.vn”

 

Nắm rõ luật chơi CPTPP để tạo ưu thế cạnh tranh trên thị trường

Email In PDF

Khi tham gia sân chơi chung, DN Việt Nam cần tận dụng các cơ hội nhưng phải chú ý khai thác tiềm năng thị trường, không bỏ quên lợi thế "sân nhà".

Đây là ý kiến các chuyên gia tại Hội thảo CPTPP – Cơ hội và thách thức đối với doanh nghiệp Việt Nam vừa được tổ chức ngày 28/11.

Quốc hội vừa biểu quyết với tỷ lệ 100% đồng ý thông qua Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) cùng các văn kiện liên quan. Đây được xem là Hiệp định thương mại tự do lớn thứ ba thế giới hiện nay.

PGS. TS. Nguyễn Văn Nam – Chủ tịch Hội đồng Viện nghiên cứu Chiến lược thương hiệu và Cạnh tranh cho rằng, doanh nghiệp (DN) đóng vai trò then chốt đối với phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế. “Nếu DN không làm thì không có thắng lợi, không có thành công”, ông Nam khẳng định.

Lưu ý với các doanh nghiệp Việt khi tham gia sân chơi lớn, ông Ngô Chung Khanh - Phó Vụ trưởng Vụ chính sách thương mại đa biên, Bộ Công Thương cho rằng, DN Việt cần phải tận dụng tối đa các cơ hội mà Hiệp định CPTPP mang lại về ưu đãi thuế, cải cách thế chế để mở rộng thị trường. Quan trọng hơn, DN cần phải tận dụng được ngay thị trường trong nước, đó là tận dụng được thị trường đầy tiềm năng với hơn 90 triệu dân mà rất nhiều DN nước ngoài đang đang muốn chiếm lĩnh.

Ông Ngô Chung Khanh dẫn chứng, thực tế các mặt hàng như: Xoài Nhật Bản, thanh long Đài Loan có giá cao ngất ngưởng nhưng vẫn "cháy hàng" ở thị trường Việt Nam, trong khi Việt Nam có rất nhiều mặt hàng chất lượng cao lại đem đi xuất khẩu hết.

"DN Việt cần quay lại cạnh tranh để giành lại thị trường từ các đối thủ cạnh tranh nước ngoài", ông Khanh đánh giá.

Thực tế, đại diện Bộ Công thương cho rằng, không chỉ Việt Nam mà nhiều nước đang tận dụng các hiệp định FTA trong nông nghiệp. Điển hình như nhiều công ty Nhật Bản sang Việt Nam làm nông nghiệp rồi xuất khẩu ngược lại sang Nhật Bản.

Nhấn mạnh việc cần nắm chắc “luật chơi” khi tham gia CPTPP, TS. Võ Trí Thành - Viện trưởng Viện nghiên cứu Chiến lược thương hiệu và Cạnh tranh nhắc lại vấn "thẻ vàng" của EU đối với thủy sản Việt Nam là bài học lớn mà các DN cần phải lưu tâm.

Từ đó, TS. Võ Trí Thành nhấn mạnh, các DN cần phải nắm được các quy định có liên quan tới doanh nghiệp mình, và tìm cách đáp ứng các yêu cầu đó. Các quy định về xuất khẩu hàng hóa ngày càng khắt khe, ngoài tiêu chuẩn về chất lượng, còn phải đáp ứng các quy định về xuất xứ hàng hóa.

Ví dụ, khi Việt Nam xuất khẩu thủy sản, không chỉ bảo đảm rằng đó là sản phẩm sạch mà còn phải đảm bảo cả về quy trình đánh bắt, tính hợp pháp của vùng biển đánh bắt và phải đáp ứng cả yêu cầu về môi trường.

Riêng về lĩnh vực tài chính, TS Nguyễn Minh Phong cho rằng, tự do hóa tài chính trong khuôn khổ CPTPP rất cao dù các nước thành viên được quyền chủ động thực hiện các biện pháp củng cố tính ổn định tài chính và tính thống nhất của hệ thống tài chính của mình, bao gồm những quy định ngoại lệ mà các quốc gia thành viên xem xét một cách thận trọng và những quy định ngoại lệ về các biện pháp không phân biệt đối xử trong quá trình thiết lập và thực thi các chính sách tiền tệ hay các chính sách khác. Việt Nam cũng như các nước được áp dụng các ngoại lệ cần thiết, gồm các biện pháp thận trọng bảo vệ an ninh quốc gia, quyền lợi và thông tin cá nhân; chính sách về tỷ giá, tiền tệ nhằm đảm bảo môi trường đầu tư ổn định, an toàn.

“Thực thi CPTPP, trong đó có các cam kết về dịch vụ tài chính sẽ góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý về cạnh tranh tại Việt Nam, từ đó thu hút, thúc đẩy các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, bao gồm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, kinh doanh tại Việt Nam khi môi trường kinh doanh được đảm bảo cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và không phân biệt đối xử”, TS Nguyễn Minh Phong nói.

CPTPP được kỳ vọng thúc đẩy thay đổi tư duy mạnh hơn. Thực tế, gần đây, các bộ, ngành, địa phương khi xây dựng Luật, cấp phép đầu tư đều phải tính đến các quy định liệu có phù hợp với CPTPP không, đó là nhưng chuyển biến quan trọng.

Do đó, các chuyên gia cho rằng, nhiều người nói cơ hội CPTPP mở cửa thị trường nhưng cơ hội lớn nhất là cải cách thể chế, cắt giảm các điều kiện kinh doanh, giấy phép con, tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp.

Nguồn: “www.chinhphu.vn”

 

Hoa Kỳ cam kết giúp DNVVN Việt Nam thích ứng với môi trường quốc tế hiện đại

Email In PDF

Đại sứ Daniel J. Kritenbrink đã khẳng định như vậy tại hội thảo "Đưa doanh nghiệp vừa và nhỏ tiến lên cách mạng công nghiệp 4.0 và chuỗi giá trị toàn diện toàn cầu", do Hội đồng kinh doanh Hoa Kỳ - ASEAN (USABC) tổ chức mới đây, tại Hải Phòng.

Hội thảo tập trung thảo luận vai trò của nền kinh tế số, tạo thuận lợi thương mại và các cơ hội với các công ty của Hoa Kỳ cho hơn 200 doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) của Việt Nam, đồng thời nhấn mạnh sự hợp tác giữa các công ty của Hoa Kỳ với các DNVVN Việt Nam.

Nhấn mạnh sự hợp tác này, Đại sứ Kritenbrink bày tỏ vui mừng khi thấy đại diện của các công ty Hoa Kỳ hàng đầu thế giới có mặt Việt Nam như Microsoft, Cisco, FedEx, Coca-Cola, và Visa. Những công ty này đang thúc đẩy sự hội nhập của các DNVVN hàng đầu của Việt Nam vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

“Các công ty này đang tận dụng những công nghệ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 để giúp DNVVN Việt Nam thành công. Cũng như Chính phủ của tôi, họ đang đầu tư vào sự thành công của Việt Nam” - Đại sứ nhấn mạnh.

Đại sứ Kritenbrink cũng khẳng định, Hoa Kỳ cam kết hợp tác với Việt Nam nhằm giúp các DNVVN Việt Nam thích ứng với môi trường quốc tế hiện đại. Mới đây, Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) đã trao dự án 5 năm LinkSME giá trị 22 triệu USD cho Tổ chức International Executive Service Corps nhằm cải thiện và mở rộng quan hệ mua bán giữa các công ty nước ngoài và Việt Nam.

Dự án này sẽ nâng cao năng suất và năng lực của Việt Nam trong việc cung cấp sản phẩm cho các công ty lớn hơn trong và ngoài Việt Nam. Các công ty nước ngoài sẽ được hưởng lợi từ việc tăng cường mua hàng trong nước. LinkSME sẽ giúp các DN Việt Nam trong toàn chuỗi giá trị tìm kiếm các cơ hội và tạo việc làm mới.

Nhân dịp này, Đại sứ và các đại diện USABC đã thăm nhà máy "thông minh” của General Electric (GE) ở Hải Phòng, một trong số các cơ sở sản xuất tiên tiến nhất của GE, ở đó họ tìm hiểu về quan hệ dài hạn của GE với các nhà cung cấp của Việt Nam. GE hỗ trợ các đối tác Việt nam thông qua đào tạo và hướng dẫn sử dụng công nghệ tiên tiến và cải thiện năng lực quản lý. 20% nguyên vật liệu sản xuất của GE đến từ các nhà cung cấp Việt Nam. GE hy vọng sẽ nâng cao hơn nữa tỷ lệ này.

Đại diện Công ty GE cho biết, GE hỗ trợ các đối tác Việt Nam thông qua đào tạo, hướng dẫn sử dụng công nghệ tiên tiến và cải thiện năng lực quản lý. 20% nguyên vật liệu sản xuất của GE đến từ các nhà cung cấp Việt Nam và GE hy vọng sẽ nâng cao hơn nữa tỷ lệ này.

Nguồn: “Báo Công Thương Điện Tử”

 

Việt Nam - Ấn Độ đang đứng trước cơ hội hợp tác lớn

Email In PDF

Đây là khẳng định của Tổng thống Ấn Độ Ram Nath Kovind tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Ấn Độ, diễn ra chiều 19/11, tại Hà Nội, trong khuôn khổ chuyến thăm cấp Nhà nước của ông tới Việt Nam.

Hai nước có chung tầm nhìn

Tổng thống Ram Nath Kovind đánh giá, Việt Nam và Ấn Độ có chung tầm nhìn cũng như phương pháp tiếp cận về kinh tế. Tương tự như Ấn Độ, Việt Nam có sự tăng trưởng ấn tượng trong thời gian vừa qua, giúp giảm tỷ lệ đói nghèo từ 70% vào những năm 90 xuống còn ít hơn 10% vào thời gian gần đây. Tổng thống Ấn Độ cho rằng, việc tăng GDP bình quân đầu người tăng từ 100 USD/tháng vào năm những năm 90 lên 2.000 USD/tháng trong những năm gần đây là một trong những thành tựu to lớn của Việt Nam.

Nhận định về triển vọng đối với quan hệ hợp tác thương mại giữa Việt Nam và Ấn Độ trong tương lai, Tổng thống Ram Nath Kovind khẳng định, hai nước có thể hợp tác trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, nền kinh tế số, năng lượng tái tạo, y tế, hàng không dân dụng. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng có thể hợp tác trong một số chương trình mang thương hiệu Ấn Độ. Ngược lại, Ấn Độ cũng muốn học hỏi từ Việt Nam trong các lĩnh vực phát triển hạ tầng đô thị, du lịch…

Tổng thống cho rằng, doanh nghiệp hai nước đang đứng trước nhiều cơ hội lớn để hợp tác, đặc biệt trong các lĩnh vực mới như công nghệ thông tin, kinh tế số, năng lượng tái tạo, y tế, hàng không dân dụng... Bên cạnh đó là các lĩnh vực mang tính truyền thống như nông nghiệp, du lịch, dược phẩm…“Việt Nam là một trong những đối tác thương mại quan trọng của Ấn Độ ở Đông Nam Á và Ấn Độ cũng thuộc nhóm những đối tác hàng đầu về thương mại của Việt Nam” - Tổng thống khẳng định.

Trong vòng 8 năm qua, kim ngạch thương mại hai chiều đã tăng gần 4 lần từ 3,7 tỷ USD vào năm 2010 lên tới 12,8 tỷ USD vào năm 2017. Đánh giá đây là bước tăng trưởng mạnh mẽ, Tổng thống Ấn Độ tin tưởng hai nước sẽ hợp tác một cách hiệu quả hơn nữa trong thời gian tới.

Mong muốn thu hút đầu tư mạnh mẽ hơn

Về phần mình, Phó Thủ tướng Chính phủ Trịnh Đình Dũng cho biết, Việt Nam mong muốn đẩy mạnh hợp tác sâu rộng, toàn diện và hiệu quả hơn với Ấn Độ trên nền tảng chia sẻ, hỗ trợ lẫn nhau, gắn kết thế mạnh tiềm năng của mỗi nước.

Ấn Độ hiện là một trong 10 đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam. Kim ngạch thương mại hai chiều tăng dần qua các năm kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ đối tác chiến lược. Theo số liệu của Việt Nam, năm 2017, kim ngạch thương mại hai chiều ước đạt 7,63 tỷ USD. Tính đến tháng 9/2018, kim ngạch thương mại hai chiều đạt 8,3 tỷ USD (tăng 47,1% so với cùng kỳ). Hai nước đang hướng tới mục tiêu đưa kim ngạch thương mại song phương đạt 15 tỷ USD thời gian tới.

Về hợp tác đầu tư, tính đến hết tháng 9/2018, tổng vốn đăng ký đầu tư Ấn Độ vào Việt Nam đạt 877 triệu USD, với 201 dự án đầu tư, đứng thứ 29/129 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam tập trung chủ yếu trong các lĩnh vực viễn thông, công nghệ thông tin, dược phẩm, thiết bị điện... Việt Nam hiện có 8 dự án đầu tư sang Ấn Độ với tổng vốn đăng ký là 6,16 triệu USD, chủ yếu trong lĩnh vực phân phối các sản phẩm thức ăn gia súc, vật liệu xây dựng, xuất khẩu mỹ phẩm, các sản phẩm tin học.

Theo Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng, để đạt mục tiêu kim ngạch song phương 15 tỷ USD thời gian tới, hai bên cần tăng cường đầu tư trên các lĩnh vực Ấn Độ có thế mạnh và Việt Nam đang có nhu cầu, đẩy mạnh kết nối hàng không và hàng hải, hạn chế và từng bước xóa bỏ các rào cản thương mại, tạo điều kiện thuận lợi cho hàng hóa xuất nhập khẩu của hai nước.

Sau hơn 30 năm thực hiện nhất quán chính sách đổi mới, hội nhập quốc tế, duy trì tăng trưởng cao, ổn định và liên tục trong nhiều năm qua, Việt Nam đã trở thành nền kinh tế năng động với GDP năm 2008 đạt khoảng 240 tỷ USD, quy mô thương mại đạt trên 475 tỷ USD.

Với dân số tiệm cận 100 triệu người, Việt Nam là một thị trường có sức mua tăng trưởng nhanh với sự phát triển mạnh mẽ của tầng lớp trung lưu; là nền kinh tế mở và đang tiếp tục chủ động đẩy mạnh hội nhập quốc tế với các hiệp định thương mại tự do đã được ký kết.

Phó Thủ tướng khẳng định, Việt Nam mong muốn các nhà đầu tư Ấn Độ tăng cường đầu tư mạnh mẽ hơn nữa vào thị trường Việt Nam, điển hình trong các lĩnh vực năng lượng tái tạo, công nghiệp chế tạo, công nghệ thông tin, xây dựng kết cấu hạ tầng... Đó là những lĩnh vực Ấn Độ có thế mạnh và Việt Nam có nhu cầu. Hai nước cần tăng cường kết nối cả về song phương và khu vực, kết nối về hạ tầng như đường hàng không, đường bộ, hàng hải và kết nối số. Theo Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng, các sáng kiến “Sản xuất tại Ấn Độ”, “Ấn Độ số”, “100 thành phố thông minh”... sẽ tạo nhiều cơ hội hợp tác, đầu tư, kinh doanh cho doanh nghiệp hai nước.

Bên cạnh đó, hai bên cần thiết lập cơ chế đối thoại giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp và giữa doanh nghiệp với chính phủ, tạo diễn đàn để chia sẻ quan tâm, chiến lược và tầm nhìn về hợp tác phát triển. Doanh nghiệp hai nước cũng cần chủ động, quyết liệt trong việc thúc đẩy hợp tác.

“Chính phủ và nhân dân Việt Nam luôn coi thành công của các doanh nghiệp Ấn Độ cũng là thành công của mình. Với những thành công rực rỡ trong 46 năm qua, với những quyết tâm của chính phủ trong việc cải thiện hơn nữa môi trường đầu tư kinh doanh và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư, với nhiều tiềm năng, lĩnh vực còn dư địa hợp tác hiệu quả giữa doanh nghiệp hai nước, chúng ta hoàn toàn tin tưởng mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước sẽ ngày càng phát triển tốt đẹp và thịnh vượng chung vì lợi ích của nhân dân hai nước” - Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng khẳng định.

Cũng trong khuôn khổ diễn đàn, đại biểu đến từ các doanh nghiệp Ấn Độ và Việt Nam đã cùng thảo luận những vấn đề liên quan tới cơ hội hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp, chế biến nông sản, hóa chất nông nghiệp, thực phẩm, chế biến thực phẩm; lĩnh vực y tế và dược phẩm; năng lượng, năng lượng tái tạo, dầu khí và cơ sở hạ tầng; dịch vụ, công nghệ thông tin, truyền thông, giáo dục, hàng không và du lịch…

Nguồn: “Báo Công Thương Điện Tử”

 

Thúc đẩy kim ngạch thương mại Việt Nam-Mỹ Latinh đạt 18 tỷ USD

Email In PDF

Diễn đàn thương mại và đầu tư Việt Nam-Mỹ Latinh sẽ trở thành một sự kiện thường niên, là cơ hội để cộng đồng doanh nghiệp (DN) hai bên gặp gỡ, tiếp xúc để tìm kiếm các cơ hội đặc biệt là với các DN vừa và nhỏ Việt Nam.

Chiều 13/11, tại TPHCM đã diễn ra Diễn đàn Thương mại và Đầu tư Việt Nam – Mỹ Latinh năm 2018, do Bộ Công Thương tổ chức thu hút sự tham dự của Lãnh đạo các Cơ quan Xúc tiến Thương mại và Đầu tư các tỉnh, thành phố khu vực phía nam, các hiệp hội và cộng đồng DN sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam; Thương vụ Việt Nam tại các nước khu vực Mỹ Latinh cùng đại diện nhiều DN và Tập đoàn lớn của Mỹ Latinh hiện đang kinh doanh tại Việt Nam.

Thương mại tăng nhanh nhưng vẫn còn nhiều trở ngại

Theo đánh giá của Bộ Công Thương, quan hệ kinh tế và thương mại giữa Việt Nam và các nước Mỹ Latinh đã và đang được mở rộng và phát triển. Hiện nay, Việt Nam đã có quan hệ thương mại với tất cả các quốc gia trong khu vực, với tổng kim ngạch thương mại hai chiều tăng hơn 20 lần từ 245 triệu USD năm 2000 lên 3,95 tỷ USD năm 2010, và tiếp tục đạt mức 13,49 tỷ USD năm 2017; trong đó xuất khẩu của Việt Nam sang Khu vực đạt 7,91 tỷ USD và nhập khẩu đạt 5,58 tỷ USD.

Trong lĩnh vực hợp tác đầu tư, Việt Nam đã có một số dự án đầu tư tại Mỹ Latinh với số vốn lên tới hàng trăm triệu USD như các dự án thăm dò và khai thác dầu khí tại Peru, phát triển mạng viễn thông ở Haiti và Peru, sản xuất mỳ ăn liền ở Brazil.

Ở chiều ngược lại, đầu tư của các nước Mỹ Latinh sang Việt Nam còn hạn chế. Argentina mới có 4 dự án đầu tư với tổng vốn đầu tư 3,2 triệu USD, Peru có 2 công ty hoạt động kinh doanh tại Việt Nam trong lĩnh vực sản phẩm nước giải khát và khai thác dịch vụ nghỉ dưỡng du lịch...

Tại diễn đàn, theo chia sẻ của các DN, những thách thức chủ yếu là khoảng cách địa lý xa xôi, dẫn đến thời gian vận tải, đi lại dài và chi phí cao; khác biệt về ngôn ngữ, còn ít thông tin về đất nước, con người, môi trường và cơ hội kinh doanh.

Ngoài ra, theo nhận định của các chuyên gia, những trở ngại khác cũng cần phải kể đến là tình hình thương mại toàn cầu có nhiều biến động, sự ảnh hưởng của cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung; cũng như sự xuất hiện trở lại của xu hướng bảo hộ mậu dịch những năm gần đây tại một số thị trường lớn. Vì vậy, việc duy trì và nâng cao mức kim ngạch hai chiều trong thời gian tới đòi hỏi nỗ lực nhiều hơn của Chính phủ, các hiệp hội, ngành hàng và cộng đồng DN.

Lãnh đạo Bộ Công Thương cho biết, Việt Nam mong muốn nâng kim ngạch thương mại hai chiều lên khoảng 18 tỷ USD vào năm 2021, thu hút khoảng từ 3 - 5 tỷ USD đầu tư từ khu vực Mỹ Latinh. Trong đó, mở rộng hợp tác đầu tư và công nghiệp trong các lĩnh vực năng lượng, dầu khí, viễn thông và nông nghiệp.

Ký kết nhiều hiệp định thương mại với các nước khu vực Mỹ Latinh

Thứ trưởng Bộ Công Thương Đỗ Thắng Hải cho biết, để thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư với các nước Mỹ La tinh, Việt Nam đã ký kết nhiều hiệp định, thoả thuận với một số nước trong Khu vực. Đáng chú ý nhất là Hiệp định thương mại tự do với Chile được ký năm 2011 và đi vào hiệu lực từ năm 2014; và mới đây nhất là Hiệp định thương mại Việt Nam – Cuba được ký ngày 9/11/2018.

Mặt khác, Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), trong đó có các nước Chile, Peru, Mexico là thành viên, cũng đã được ký kết vào tháng 3/2018, và mới đây, Việt Nam đã chính thức trở thành quốc gia thứ 7 thông qua Hiệp định này. Hiệp định CPTPP được coi là hình mẫu cho các thế hệ hiệp định thương mại tự do mới, có thể tái định hình thương mại toàn cầu.

Việt Nam cũng đã thành lập các Ủy ban liên Chính phủ/Ủy ban Hỗn hợp và Hội đồng Thương mại tự do với 10 nước Mỹ Latinh bao gồm: Argentina, Brazil, Chile, Cuba, Haiti, Mexico, Panama, Peru, Urugoay và Venezuela. Các Uỷ ban này đang trở thành một kênh quan trọng để hai bên trao đổi thông tin; xác định các lĩnh vực, cơ chế và dự án hợp tác; hỗ trợ và thúc đẩy thực hiện các chương trình dự án hợp tác mà hai bên cùng quan tâm.

Nguồn: “www.chinhphu.vn”

 

Việt Nam - Hàn Quốc: Cơ hội hợp tác về phát triển đô thị thông minh

Email In PDF

Hàn Quốc là một trong những quốc gia đi đầu châu Á về phát triển mô hình đô thị thông minh (ĐTTM). Những kinh nghiệm quản lý và bài học thực tiễn về đầu tư, xây dựng, phát triển ĐTTM tại Hàn Quốc có giá trị tham khảo quan trọng đối với việc định hướng và thực hiện phát triển ĐTTM ở Việt Nam. Đây chính là cơ hội giúp cho doanh nghiệp 2 nước có thể hợp tác về phát triển ĐTTM.

Đó là nội dung chính diễn ra tại Hội thảo Việt Nam - Hàn Quốc về đô thị và giao thông thông minh do Bộ Đất đai, Hạ tầng và Giao thông Hàn Quốc, Đại sứ quán Hàn Quốc tại Việt Nam phối hợp tổ chức chiều ngày 14/11.

Đô thị hóa là xu hướng tất yếu của nhân loại cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Xây dựng và phát triển đô thị phải hướng đến những giá trị chung toàn cầu, đó là những mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.

Việt Nam hiện có 813 đô thị, tỷ lệ đô thị hóa toàn quốc vào khoảng 37,5%, khu vực đô thị luôn đóng góp khoảng 70% GDP của cả nước, khẳng định vai trò tạo động lực phát triển kinh tế, mang lại giá trị công nghiệp, xuất nhập khẩu, tiến bộ khoa học công nghệ và tác động lan tỏa sự phát triển các vùng trên cả nước.

Bên cạnh những đóng góp tích cực của quá trình đô thị hóa, theo ông Trần Ngọc Linh - Cục Phát triển đô thị (Bộ Xây dựng) - các đô thị Việt Nam cũng đang gặp phải nhiều thách thức: Chất lượng tăng trưởng đô thị chưa bền vững, cơ sở hạ tầng và kết nối nghèo nàn, thiếu nguồn vốn đầu tư phát triển của đô thị, năng lực quản lý đô thị còn hạn chế… Ngoài ra là tốc độ phát triển hạ tầng thường không theo kịp với tốc độ đô thị hóa, dẫn đến những hệ lụy như tắc đường, tai nạn giao thông, ô nhiễm môi trường…

Vì vậy, “trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đang phát triển mạnh mẽ, ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện của đô thị, thì đô thị và giao thông thông minh chính là giải pháp hữu hiệu nhất” - ông Trần Ngọc Linh nhấn mạnh.

Một số đô thị lớn ở Việt Nam đã và đang chủ động triển khai nghiên cứu xây dựng các đề án phát triển đô thị thông minh như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế, Bình Dương… Tuy nhiên, có rất nhiều địa phương tại Việt Nam lại đang lúng túng trong xây dựng ĐTTM vì thiếu hành lang pháp lý cho các dự án này. Trước thực tế đó, ngày 1/8/2018, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án phát triển ĐTTM bền vững Việt Nam giai đoạn 2018-2025 và định hướng đến năm 2030, trong đó mục tiêu đến năm 2020 xây dựng nền tảng cơ sở pháp lý phát triển ĐTTM, tiến hành công tác chuẩn bị đầu tư triển khai thí điểm ở cấp khu đô thị và đô thị. Theo đó, ít nhất 3 đô thị được phê duyệt Đề án tổng thể về phát triển ĐTTM và tổ chức thực hiện đầu tư hạ tầng và phát triển ứng dụng các tiện ích ĐTTM.

Hà Nội là 1 trong số những siêu đô thị trên thế giới về diện tích và quy mô dân số. Tốc độ đô thị hóa và gia tăng dân số cơ học nhanh chóng dẫn đến rất nhiều thách thức trong vấn đề về quy hoạch, ùn tắc giao thông, an ninh, y tế, giáo dục, năng lượng, phát triển nhà ở, xử lý ô nhiễm môi trường…

Ông Nguyễn Thế Hùng - Phó Chủ tịch UBND TP. Hà Nội - cho biết, Hà Nội đang lựa chọn mục tiêu xây dựng ĐTTM và hướng tới một mô hình thành phố thông minh, mang lại sự tiện ích, an toàn, thân thiện cho người dân dựa trên nền tảng ứng dụng những công nghệ chủ chốt của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0.

Ngoài ra, vấn đề giao thông thông minh cũng đang được thành phố ưu tiên triển khai thực hiện. Cụ thể “Tổ chức triển khai thí điểm xử lý vi phạm tự động thông qua hệ thống camera giám sát tại bến xe Giáp Bát; ứng dụng công nghệ Ipacking thu phí đỗ xe; thí điểm hệ thống thẻ vé thông minh trên tuyến BRT01. Thí điểm lắp đặt đèn tín hiệu thông minh tại một số nút giao thông…” - ông Nguyễn Thế Hùng cho biết thêm.

Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra với Hà Nội nói riêng và các thành phố, đô thị nói chung, đó là mô hình nào, phương thức nào để triển khai ĐTTM, giao thông thông minh.

Ông Lim Hong Sang - Tổng công ty Nhà ở và Đất đai Hàn Quốc (LH) - cho hay, Hàn Quốc là một trong những quốc gia thúc đẩy mạnh mẽ ĐTTM, đạt được nhiều thành công trong quy hoạch, quản lý giao thông, quản lý dân cư…, chúng tôi sẵn sàng chia sẻ những kinh nghiệm của mình với các đối tác Việt Nam và hiểu thêm về hiện trạng phát triển đô thị Việt Nam, từ đó tìm kiếm những công nghệ chiến lược khả thi để bước vào thị trường Việt Nam.

Theo các chuyên gia, quy hoạch ĐTTM ở Việt Nam đang ở giai đoạn đầu nghiên cứu, hình thành phương pháp, quy trình, hướng dẫn. Vì vậy, để ĐTTM trở thành hiện thực, không chỉ là sử dụng, ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại mà còn phải kết hợp với quy hoạch thông minh để tạo nên không gian đô thị bền vững.

Tại hội thảo, các chuyên gia trong lĩnh vực xây dựng của hai nước đã tập trung thảo luận xung quanh các chủ đề: Phát triển ĐTTM bền vững Việt Nam; Xu hướng quy hoạch và phát triển ĐTTM; Xây dựng chính quyền điện tử và TP. Hà Nội thông minh; Trung tâm đô thị thông minh Việt - Hàn hỗ trợ quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng ĐTTM; Phát triển TP. Hồ Chí Minh thành đô thị giai đoạn 2017-2020, tầm nhìn đến 2025…

Nguồn: “Báo Công Thương Điện Tử”

 

Việt Nam - Na Uy đẩy mạnh hợp tác chế biến phụ phẩm thủy sản

Email In PDF

Đối với các doanh nghiệp Na Uy, Việt Nam không chỉ là một trong những quốc gia xuất khẩu thủy sản hàng đầu thế giới, mà còn là nơi có nguồn nguyên liệu tươi, chất lượng cao phục vụ cho ngành chế biến phụ phẩm.

Ngày 14 /11/2018, Cơ quan Thương vụ Innovation Norway, Đại sứ quán Na Uy phối hợp cùng Tổng cục Thủy sản, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Bộ NN&PTNN) tổ chức Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam - Na Uy lần đầu tiên về chế biến sản phẩm chất lượng cao từ phụ phẩm thủy hải sản.

Diễn đàn là nơi để giới thiệu các công nghệ và sản phẩm của Na Uy trong chế biến thủy sản và các phụ phẩm, đồng thời kết nối các doanh nghiệp hai nước. Đồng thời, đây cũng là cơ hội cho các doanh nghiệp tìm hiểu các giải pháp ứng dụng công nghệ và sản phẩm tiên tiến vào chuỗi giá trị chế biến phụ phẩm thủy hải sản ở Việt Nam.

Phát biểu khai mạc diễn đàn, bà Grete Løchen - Đại sứ chỉ định của Na Uy – cho biết:“Các lĩnh vực nuôi trồng, đánh bắt và chế biến thủy sản của Na Uy phát triển rất bền vững, cung cấp các sản phẩm thủy hải sản chất lượng cao cho thị trường thế giới. Thông qua Diễn đàn này chúng tôi hy vọng có thể nhận diện được những cơ hội hợp tác kinh doanh mới trong lĩnh vực chế biến phụ phẩm thủy hải sản”.

Theo Đại sứ, Việt Nam và Na Uy có rất nhiều điểm tương đồng, trong đó, hai nước đều có đường bờ biển dài, có ngành nuôi trồng và chế biến thủy sản phát triển mạnh mẽ, có đội thuyền đánh cá lâu đời. Đại sứ cho rằng, nguồn lợi từ biển có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo an ninh lương thực, đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho mọi người dân trên thế giới.

Theo đánh giá của các chuyên gia, Na Uy là quốc gia xuất khẩu thủy sản lớn thứ hai thế giới, và Việt Nam đứng ở vị trí thứ ba. Cả hai quốc gia đều có chung một mục tiêu là phát triển bền vững ngành nuôi trồng và chế biến thủy sản. Bởi vậy, sử dụng hiệu quả hơn các phụ phẩm của ngành là một trong những giải pháp để thực hiện mục tiêu này.

Tại sự kiện này, các doanh nghiệp Na Uy đã giới thiệu với các đối tác tiềm năng và các bên liên quan về những công nghệ và sản phẩm vượt trội của Na Uy có thể hỗ trợ Việt Nam đạt được mục tiêu chế biến bền vững hơn các phụ phẩm thủy hải sản, trong đó chú trọng tới việc nâng cao chất lượng và phát triển các sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn cho thị trường quốc tế.

Trả lời phỏng vấn phóng viên Báo Công Thương, ông Trần Đình Luân- Phó Tổng cục trưởng, Tổng cục Thủy sản - đánh giá, phát triển ngành chế biến phụ phẩm là hướng đi đúng đắn, có ý nghĩa lớn trong việc gia tăng chuỗi giá trị thủy sản của Việt Nam. “Nếu như trước kia, phụ phẩm thủy sản thường bị bỏ đi, trở thành yếu tố ảnh hưởng đến môi trường, nhưng nay, đây lại là nguồn nguyên liệu cho một ngành chế biến mang hàm lượng giá trị gia tăng cao, như collagen, bột cá, mỡ cá…” – ông Luân khẳng định.

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, ngành chế biến phụ phẩm thủy sản có thể mang lại kim ngạch xuất khẩu lên tới hàng tỷ USD.

Trao đổi với báo chí, đại diện một doanh nghiệp Na Uy cho hay, công ty mong muốn tìm kiếm được đối tác tiêu thụ sản phẩm phụ phẩm thủy sản, đồng thời tìm kiếm các nhà cung cấp nguyên liệu cho chính doanh nghiệp này bởi Việt Nam có nguồn nguyên liệu phụ phẩm rất tươi, chất lượng cao. Tuy nhiên, doanh nghiệp Việt Nam muốn trở thành nhà cung cấp cho Na Uy phải đáp ứng tốt yêu cầu về bảo quản.

Nguồn: “Báo Công Thương Điện Tử”

 

CPTPP: Kỳ vọng tăng trưởng xuất khẩu và thu hút FDI

Email In PDF

Chiều 12/11, Quốc hội đã phê chuẩn Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) cùng các văn kiện liên quan với 100% đại biểu có mặt tán thành. Hiệp định này được kỳ vọng thay đổi cả về lượng và chất, giúp tăng trưởng xuất khẩu và hoàn thiện môi trường kinh doanh, thể chế, từ đó thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI).

Hiệp định CPTPP, tiền thân là TPP (Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương) gồm 11 nước: New Zealand, Canada, Nhật Bản, Mexico, Singapore, Brunei, Chile, Malaysia, Peru, Australia và Việt Nam. Các cuộc đàm phán Hiệp định CPTPP kết thúc hôm 23/1 tại Tokyo, Nhật. Hiệp định được ký kết vào ngày 8/3 tại Santiago, Chile.

Và ngày 12/11, tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội Khóa XIV đã thông qua Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định CPTPP. Như vậy Việt Nam chính thức là quốc gia thứ 7 thông qua hiệp định này. Trước đó New Zealand, Canada, Australia, Nhật Bản, Mexico và Singapore đã thông qua hiệp định.

Việc Việt Nam phê chuẩn Hiệp định CPTPP cũng chính là một bước cụ thể hóa chiến lược về đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ hợp tác quốc tế của Việt Nam. CPTPP sẽ mở thêm nhiều cơ hội và điều kiện thuận lợi, góp phần vào việc thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa sang các nước ở cả 3 châu lục: châu Á, châu Mỹ và châu Đại Dương, trong đó có những thị trường lớn như: Nhật Bản, Australia, Canada.

Khẳng định những lợi thế mà Hiệp định CPTPP mang lại, Thứ trưởng Bộ Công Thương Trần Quốc Khánh nhấn mạnh: “Hiệp định này sẽ thay đổi cả về lượng và chất”.

“Về lượng, kỳ vọng Hiệp định CPTPP sẽ tăng trưởng về xuất khẩu, tuy không lớn như trước đây vì Hoa Kỳ đã rút khỏi hiệp định, nhưng cũng tăng trưởng đáng kể. Tăng trưởng về xuất khẩu, từ đó sẽ tăng trưởng kinh tế cho Việt Nam. Theo một số dự báo, tăng trưởng kinh tế Việt Nam tăng từ 1-2% từ nay đến năm 2030” - Thứ trưởng Trần Quốc Khánh cho hay.

Theo nghiên cứu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đến năm 2035, CPTPP có thể giúp GDP, xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam tăng tương ứng là 1,32%; 4,04% và 3,8%. Với CPTTP, Việt Nam có cơ hội cơ cấu lại thị trường xuất nhập khẩu theo hướng cân bằng hơn, từ đó giúp nền kinh tế nâng cao tính độc lập, tự chủ, cũng như cơ hội tham gia chuỗi cung ứng hình thành sau khi CPTPP có hiệu lực.

Tuy nhiên, theo Thứ trưởng Trần Quốc Khánh, điều Chính phủ kỳ vọng chính là tăng trưởng về chất, giúp Việt Nam cải thiện toàn diện môi trường kinh doanh và môi trường thể chế, thay đổi chính sách, pháp luật trong nước để tiến gần hơn đến chuẩn mực hiện đại, từ đó thúc đẩy đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài.

Theo số liệu từ Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), lũy kế đến nay, các nhà đầu tư Nhật Bản đã đầu tư vào Việt Nam trên 56,2 tỷ USD. Con số này của nhà đầu tư Singapore là 46,2 tỷ USD, còn của Malaysia là 12,5 tỷ USD, Canada 5 tỷ USD, Australia gần 1,86 tỷ USD, Brunei hơn 1 tỷ USD...

Hiện nay, trong số 11 quốc gia thành viên CPTPP, ngoài Pêru chưa có dự án đầu tư vào Việt Nam, thì tất cả các thành viên còn lại đều đã đầu tư vào Việt Nam. Tổng cộng, các nước thành viên CPTPP đã đầu tư vào Việt Nam khoảng 123 tỷ USD, chiếm gần 37% tổng vốn FDI đăng ký đầu tư vào Việt Nam trong hơn 3 thập kỷ vừa qua. Đây là một con số không hề nhỏ, cho thấy đầu tư của các thành viên CPTPP có ý nghĩa rất lớn đối với thu hút FDI của Việt Nam.

Nguồn: “Báo Công Thương Điện Tử”

 

Tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp Việt đầu tư vào Cuba

Email In PDF

Tại buổi Tọa đàm doanh nghiệp Việt Nam – Cuba vào chiều 9/11, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước và Hội đồng Bộ trưởng Miguel Mario Diaz Canel Bermudes nhấn mạnh, Cuba sẽ tiếp tục xem xét, rà soát, hoàn thiện thể chế, tháo gỡ những rào cản để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư ngày càng thuận lợi hơn.

Doanh nghiệp Việt hiện diện nhiều hơn ở Cuba

Tại tọa đàm, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước và Hội đồng Bộ trưởng Cuba cho biết, Cuba hiện gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận tài chính, công nghệ, nguyên liệu do chính sách bao vây cấm vận của Mỹ đối với Cuba, các doanh nghiệp Việt Nam hiện diện nhiều hơn, mở rộng quy mô đầu tư, sản xuất, kinh doanh tại Cuba, góp phần quan trọng giúp Cuba vượt qua khó khăn, phát triển kinh tế đất nước.

Hiện, Cuba đã và đang triển khai nhiều chính sách đổi mới, cập nhật, điều chỉnh mô hình phát triển kinh tế; trong đó, đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài được coi là một giải pháp chiến lược.

Theo Chủ tịch Hội đồng Nhà nước và Hội đồng Bộ trưởng Cuba, Cuba đã ban hành Luật Đầu tư mới để đẩy mạnh thu hút các nhà đầu tư nước ngoài, tuy nhiên đến nay, chưa đạt mức độ và quy mô như mong muốn. Hiện đã có nhà đầu tư từ khắp nơi trên thế giới hợp tác, đầu tư tại Cuba.

“Tuy nhiên, các nhà đầu tư từ Việt Nam luôn có vai trò, vị trí rất đặc biệt bởi, hai nước có sự gắn bó, tin cậy lẫn nhau. Cuba rất khâm phục quá trình đổi mới của Việt Nam, người dân Cuba tin tưởng nhiều sản phẩm, hàng hóa Việt Nam. Các doanh nghiệp Việt Nam hiện cũng đang đầu tư rất hiệu quả, uy tín tại Cuba.” – Chủ tịch Miguel Mario Diaz Canel Bermudes nhấn mạnh.

Đặc biệt, trong chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tháng 3/2018, hai bên đã ký kết nhiều thỏa thuận hợp tác quan trọng giữa hai nước trong các lĩnh vực xây dựng, phát triển hạ tầng, sản xuất linh kiện điện tử, chế biến lương thực… Trong 9 tháng năm 2018, Chính phủ Cuba đã cấp phép đầu tư cho 6 doanh nghiệp Việt Nam. Đơn cử như việc cấp phép nhượng quyền khai thác khu hạ tầng của Tổng công ty Viglacera tại Đặc khu kinh tế Mariel. Hay Công ty CP Thương mại đầu tư Thái Bình có hai nhà máy ở Cuba là Nhà máy bột giặt và Nhà máy tã lót, băng vệ sinh; Tập đoàn Tín Thành liên doanh với doanh nghiệp Cuba xây dựng Nhà máy sản xuất điện sinh khối, cồn thực phẩm, phân bón, đậu tương, cây keo lại và ngô; và Dự án sản xuất điện sinh khối từ bã mía và cây dại.

Ngoài ra, doanh nghiệp Cuba còn có hợp đồng sản xuất và thăm dò khai thác với Tập đoàn Dầu khí Việt Nam để thăm dò dầu khí đất liền tại Cuba.

Chủ tịch Miguel Mario Diaz Canel Bermudes mong muốn doanh nghiệp Việt Nam mở rộng ra nhiều lĩnh vực khác như hàng không dân dụng, công nghệ sinh học, sản xuất dược phẩm, tiếp tục hợp tác trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, trao đổi học thuật, giao lưu văn hóa… Đặc biệt, hai nước cần phối hợp chặt chẽ, nâng cao hiệu quả của cơ chế hợp tác Ủy ban liên Chính phủ và mong muốn trong Kỳ họp lần thứ 36 tại thủ đô Havana vào cuối năm 2018 có thể xác nhận được nhiều lĩnh vực hợp tác hơn.

Tạo thuận lợi để hợp tác kinh tế

Phát biểu tại tọa đàm, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng bày tỏ cảm ơn Chủ tịch Hội đồng Nhà nước và Hội đồng Bộ trưởng Cuba Miguel Mario Diaz Canel Bermudes đã dành thời gian, tạo cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam có dịp được tiếp xúc, trao đổi thông tin, đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy hơn nữa quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư giữa Việt Nam và Cuba.

Hiện nay, quan hệ hợp tác kinh tế thương mại đầu tư giữa hai nước có nhiều tiến triển rõ nét. Việt Nam hiện là đối tác thương mại lớn thứ hai ở châu Á của Cuba. Ngày càng nhiều doanh nghiệp Việt Nam quan tâm thúc đẩy các dự án thương mại, đầu tư tại Cuba.

“Việc Chính phủ hai nước chính thức ký kết Hiệp định thương mại mới Việt Nam – Cuba trong khuôn khổ chuyến thăm của Đồng chí Chủ tịch là một sự kiện có ý nghĩa quan trọng, thiết thực, tạo khuôn khổ pháp lý thuận lợi, tạo đột phá trong hợp tác thương mại song phương, tạo tiền đề để hai bên phấn đấu đưa quan hệ hai chiều từ mức hơn 200 triệu USD hiện nay lên mức 500 triệu USD vào năm 2022” - Phó Thủ tướng nhấn mạnh.

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng khẳng định, theo đề nghị của Cuba, Việt Nam sẽ tiếp tục duy trì xuất khẩu gạo ổn định sang Cuba trong thời gian tới, cũng như triển khai giai đoạn mới của dự án phát triển sản xuất lúa gạo tại Cuba. Các doanh nghiệp Việt Nam mong muốn sẽ nhập khẩu nhiều hơn các mặt hàng thế mạnh của Cuba, đặc biệt là các sản phẩm công nghệ sinh học, dược phẩm, dịch vụ y tế...

Về phía Cuba, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước và Hội đồng Bộ trưởng Miguel Mario Diaz Canel Bermudes khẳng định, Cuba sẽ xem xét, rà soát, hoàn thiện thể chế, tháo gỡ tất cả những rào cản để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư ngày càng thuận lợi hơn. Từ đó, doanh nghiệp Việt Nam góp phần đáng kể vào sự phát triển của Cuba.

Nguồn: “www.chinhphu.vn”

 

Việt Nam mong được Nhật Bản hỗ trợ khi triển khai CPTPP

Email In PDF

Đây là đề nghị được Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Tòng Thị Phóng nêu lên trong buổi tiếp Đoàn Hội cựu nghị sỹ Đảng Dân chủ Tự do Nhật Bản, chiều 6/11, tại Nhà Quốc hội.

Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội khẳng định Quốc hội Việt Nam ủng hộ, đánh giá cao quan hệ Đối tác chiến lược sâu rộng Việt Nam-Nhật Bản đang phát triển mạnh mẽ, toàn diện, thực chất, trong đó giao lưu và tin cậy chính trị giữa lãnh đạo cấp cao hai nước ngày càng được tăng cường.

Các nghị sỹ và cựu nghị sỹ Nhật Bản đóng vai trò to lớn trong việc thúc đẩy, đưa quan hệ Việt Nam-Nhật Bản trở thành điểm sáng trong quan hệ ngoại giao trên thế giới.

Cho rằng Nhật Bản là đối tác kinh tế quan trọng hàng đầu của Việt Nam, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Tòng Thị Phóng mong muốn hai bên không ngừng mở rộng phát triển quan hệ, hợp tác hiệu quả, thực chất trên mọi lĩnh vực, đáp ứng mong đợi của nhân dân hai nước, vì hòa bình, thịnh vượng trong khu vực và trên thế giới.

Nhân dịp này, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội thông tin về việc Quốc hội Việt Nam sẽ xem xét việc phê chuẩn Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) vào ngày 12/11/2018; đồng thời đề nghị phía Nhật Bản quan tâm, hỗ trợ cho Việt Nam trong quá trình triển khai CPTPP trên thực tế.

Cảm ơn Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Tòng Thị Phóng dành thời gian tiếp, ông Saito Toshitsugu, Chủ tịch Hội cựu nghị sỹ Đảng Dân chủ Tự do Nhật Bản, bày tỏ tình cảm tốt đẹp với đất nước, con người Việt Nam; đánh giá cao những thành tựu quan trọng Việt Nam đã đạt được trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước thời gian qua cũng như vai trò, đóng góp tích cực của Việt Nam trong các vấn đề quốc tế và khu vực.

Ông Saito Toshitsugu khẳng định sẽ nỗ lực phối hợp, chung sức nhằm đưa quan hệ Đối tác chiến lược sâu rộng giữa hai nước bước vào giai đoạn phát triển mới, toàn diện và thực chất hơn nữa.

Nguồn: “www.chinhphu.vn”

 

Kết nối cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam-ASEAN

Email In PDF

Hội nghị Kết nối cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam-ASEAN và Liên hoan Giao lưu văn hóa Việt Nam-ASEAN năm 2018 được tổ chức tại thủ đô Kuala Lumpur của Malaysia.

Hội nghị do Tạp chí Văn hóa doanh nhân, Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc Việt Nam và Tạp chí Văn hiến Việt Nam phối hợp tổ chức.

Theo phóng viên TTXVN tại Kuala Lumpur, tham dự chương trình có đại diện của khoảng 200 doanh nghiệp Việt Nam, các nghệ nhân và các nhà nghiên cứu về văn hóa-xã hội. Đại diện Phòng Thương mại Malaysia - Việt Nam (MVCC), Hiệp hội Doanh nghiệp Việt Nam tại Malaysia cùng một số nghệ sĩ nước chủ nhà cũng có mặt tại sự kiện.

Đại sứ Việt Nam tại Malaysia Lê Quý Quỳnh cho rằng hiện nay, quá trình hội nhập khu vực đang diễn ra ngày một sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực. Đại sứ hy vọng Hội nghị sẽ giúp các doanh nghiệp Việt Nam có được cái nhìn tổng quan hơn về quá trình này, đồng thời có biện pháp để khai thác tiềm năng hợp tác còn rất lớn giữa Việt Nam và Malaysia.

Tại Hội nghị, đại diện một số doanh nghiệp Việt Nam và Malaysia đã chia sẻ kinh nghiệm về quá trình xây dựng và phát triển doanh nghiệp, đặc biệt là những khó khăn, thách thức mà doanh nghiệp phải đối mặt. Họ cũng nhất trí rằng, hội nhập khu vực là động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp. Tuy nhiên, quá trình này cũng tạo ra nhiều thách thức, đòi hỏi phải có sự hỗ trợ, giúp đỡ từ các cơ quan chức năng.

Theo Ban tổ chức, chương trình lần này nhằm mục đích tạo điều kiện cho các doanh nhân, doanh nghiệp của Việt Nam tìm kiếm cơ hội hợp tác và khảo sát thị trường quốc tế tại các nước ASEAN, trước mắt là Malaysia, Singapore và Indonesia, từ đó có những nhận định để xây dựng phương hướng hoạt động của mình trong thời gian tới. Bên cạnh đó, thông qua hoạt động giao lưu văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc, chương trình cũng mong muốn góp phần tăng cường tình đoàn kết và hữu nghị giữa Việt Nam với các nước ASEAN.

Nguồn: “www.chinhphu.vn”

 

Dấu ấn hội nhập - VPA/FLEGT: Mở rộng thị trường gỗ Việt

Email In PDF

Sau 6 năm bền bỉ đàm phán, Hiệp định Đối tác tự nguyện về thực thi lâm luật, quản trị rừng và thương mại lâm sản (VPA/FLEGT) giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) đã được ký kết vào ngày 19/10/2018. Theo các chuyên gia, hiệp định này sẽ mở ra nhiều cơ hội cho gỗ Việt.

Rộng cửa cho XK gỗ

Ông Nguyễn Tôn Quyền - Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam - đánh giá: EU là thị trường quan trọng với gỗ Việt, việc ký VPA/FLEGT sẽ giúp thị trường rộng mở hơn, các sản phẩm gỗ được XK trực tiếp vào 28 nước châu Âu mà không cần phải qua một nước trung gian nào. Dự kiến trong vài năm nữa, kim ngạch XK gỗ sang EU sẽ tăng gấp đôi, từ 700 triệu USD hiện nay lên hơn 1 tỷ USD.

Nhưng điều quan trọng hơn, theo ông Nguyễn Tôn Quyền, VPA/FLEGT sẽ giúp Việt Nam cải thiện thể chế về quản lý rừng, giải quyết tình trạng khai thác và thương mại gỗ trái phép, nâng cao uy tín và hình ảnh ngành chế biến gỗ XK của Việt Nam trên toàn cầu.

Đồng quan điểm về vấn đề này, ông Nguyễn Quốc Trị - Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) - nhận định: Đây sẽ được xem là lợi thế cạnh tranh của Việt Nam với các nước không có một hiệp định VPA/FLEGT đầy đủ. Không những vậy, thực thi hiệp định này còn giúp nâng cao vị thế của Việt Nam trong lĩnh vực XK lâm sản trên thị trường quốc tế. "Thực hiện VPA/FLEGT cũng là thực hiện một trong những mục tiêu của Thủ tướng Chính phủ đặt ra cho ngành lâm nghiệp đến năm 2025, đạt kim ngạch XK 17 tỷ USD, đến năm 2020 đạt 11 - 12 tỷ USD" - ông Trị nói.

Doanh nghiệp đã sẵn sàng

Với VPA/FLEGT, 100% gỗ XK vào EU phải là gỗ hợp pháp. Điều này sẽ khiến chi phí tăng, DN phải thực hiện nhiều công đoạn để đảm bảo truy xuất nguồn gốc gỗ rõ ràng. Để đáp ứng những yêu cầu của hiệp định, ông Nguyễn Quốc Trị cho biết: Trước tiên, các DN trồng rừng cần có chứng chỉ thể hiện nguồn gỗ đó minh bạch, hợp pháp. Bên cạnh đó, các DN cần chuẩn bị các hồ sơ để giải trình nguồn gỗ nhập là hợp pháp. Cùng với đó, DN phải tự đánh giá và nâng cao năng lực để được xếp vào danh mục loại một. Lúc đó, DN sẽ tự chủ trong XK gỗ và có khả năng mở rộng thị trường.

Điều đáng mừng theo ông Nguyễn Tôn Quyền, trong 10 năm trở lại đây, các DN chế biến, XK gỗ đã quan tâm và làm rất tốt điều này, gỗ nguyên liệu đều có chứng chỉ rừng bền vững (FSC). Năm 2015, các DN trong hiệp hội cũng đã ký cam kết nói không với gỗ bất hợp pháp.

Cụ thể, Công ty CP Lâm sản Nam Định (NAFOCO) đã thực hiện mô hình chứng chỉ nhóm hộ tại Yên Bình (Yên Bái) với quy mô khoảng 1.000 - 3.000ha, 494 hộ tại 5 xã của huyện tham gia. Tổng diện tích rừng được cấp chứng chỉ FSC là 1.737ha. Từ năm 2016, Công ty Woodsland đã ký thỏa thuận liên kết trồng keo có chứng chỉ FSC với 197 hộ dân tại 3 xã Công Đa, Phú Thịnh và Tiến Bộ của huyện Yên Sơn (Tuyên Quang) với diện tích 848,09ha. Hiện toàn bộ diện tích này đã được cấp chứng chỉ FSC.

Theo ông Nguyễn Quốc Trị, các cơ quan quản lý, người trồng rừng và DN gỗ Việt Nam sẽ sẵn sàng với các điều kiện cam kết của VPA/FLEGT.

Nguồn: “Báo Công Thương Điện Tử”

 

Cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam thâm nhập sâu hơn vào thị trường Trung Quốc

Email In PDF

Hội chợ nhập khẩu quốc tế Trung Quốc (China International Import Exposition - CIIE 2018) do Bộ Thương mại Trung Quốc phối hợp với Ủy ban Thương mại Thượng Hải chủ trì tổ chức lần đầu tiên, từ ngày 5-10/11/2018, tại thành phố Thượng Hải. Việt Nam là 1 trong 12 quốc gia danh dự trong tổng số hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ tham dự Hội chợ lần này.

Hội chợ đã thu hút sự tham gia của các doanh nghiệp đến từ hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, tiếp nhận đăng ký của hơn 150.000 khách tham quan, giao dịch tại Hội chợ là các doanh nghiệp, nhà đầu tư, đại lý phân phối của Trung Quốc và quốc tế khác. Việc Việt Nam tham gia Hội chợ là cơ hội tốt để quảng bá hình ảnh quốc gia, tăng cường xúc tiến thương mại đầu tư và du lịch hiệu quả.

Hội chợ gồm khu trưng bày các gian hàng quốc gia và khu triển lãm doanh nghiệp. Khu trưng bày các gian hàng quốc gia giới thiệu các thành tựu thương mại, đầu tư trong lĩnh vực hàng hóa, dịch vụ, công nghiệp, du lịch cũng như các sản phẩm mang tính đại diện, đặc trưng của quốc gia tham dự. Khu triển lãm doanh nghiệp dành cho các doanh nghiệp trưng bày hàng hóa, dịch vụ để tìm kiếm đối tác kinh doanh và đầu tư, có quy mô trên 210.000 m2…

Tham dự Hội chợ với vai trò là quốc gia danh dự, khu gian hàng quốc gia Việt Nam có quy mô 256 m2 trưng bày và giới thiệu quảng bá thông tin, hình ảnh quốc gia, tiềm năng và thành tựu thương mại, đầu tư, du lịch của Việt Nam và các sản phẩm đặc trưng, có thế mạnh xuất khẩu của Việt Nam.

Khu gian hàng thương mại Việt Nam có quy mô 245 m2 với sự tham gia của 25 doanh nghiệp có năng lực xuất khẩu tốt và thương hiệu uy tín, chất lượng của Việt Nam trong lĩnh vực nông sản, thực phẩm chế biến và dịch vụ công nghệ thông tin như: Vinamilk, TH True Milk, FPT, cà phê Trung Nguyên, đường Quảng Ngãi, thực phẩm Hapro, thủy sản Cửu Long An Giang...

Đây cũng là dịp quảng bá thương hiệu, hình ảnh doanh nghiệp Việt Nam tới Trung Quốc và các nước trên thế giới, nhằm thu hút đầu tư nước ngoài, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam tìm kiếm thị trường, mở rộng kinh doanh.

Thời gian qua, hợp tác thương mại, đầu tư, du lịch giữa Việt Nam, Trung Quốc có tiến triển mới. Trung Quốc tiếp tục là đối tác thương mại và thị trường khách du lịch lớn nhất của Việt Nam. Việt Nam cũng là đối tác thương mại và du lịch lớn nhất của Trung Quốc trong ASEAN.

Kim ngạch thương mại song phương tiếp tục tăng trưởng. Trong 9 tháng năm 2018, kim ngạch thương mại song phương Việt Nam - Trung Quốc đạt 76,07 tỷ USD. Trung Quốc tiếp tục là đối tác thương mại lớn nhất, thị trường nhập khẩu lớn nhất và thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam (sau Hoa Kỳ).

Năm 2017, đầu tư của Trung Quốc tại Việt Nam đạt 2,17 tỷ USD, tăng hơn 20% so với cùng kỳ năm 2016, lần đầu tiên là nhà đầu tư FDI lớn thứ tư trong năm của Việt Nam. Tính lũy kế đến cuối tháng 9/2018, Trung Quốc đầu tư vào Việt Nam 2.041 dự án, với số vốn đăng ký 12,78 tỷ USD, đứng thứ 7/129 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam.

Nhân dịp này, Văn phòng Xúc tiến thương mại Việt Nam sẽ được khai trương tại thành phố Hàng Châu, Trung Quốc.

Nguồn: “www.chinhphu.vn”

 

CPTPP có hiệu lực vào ngày 30 tháng 12 năm 2018

Email In PDF

Sau một chặng đường dài và gian nan, Hiệp định Thương mại toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đã sẵn sàng để có hiệu lực vào ngày 30 tháng 12 năm 2018.

Ngoài sáu quốc gia thành viên đã hoàn tất các thủ tục phê chuẩn để cho phép toàn bộ hiệp định có hiệu lực trước cuối năm nay là: Australia, Canada, Nhật Bản, Mexico, New Zealand và Singapore. Tại Việt Nam, sáng 2/11 Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng cũng đã đọc tờ trình trước Quốc hội về việc đề nghị phê chuẩn hiệp định này. Điều này có nghĩa số thành viên thông qua quá bán, CPTPP sẽ có hiệu lực vào ngày 30/12.

Mọi dòng thuế sẽ được giảm hoặc loại bỏ, mọi ngành dịch vụ và đầu tư được cam kết sẽ mở cho các công ty CPTPP, tất cả các quy định mới về quyền sở hữu trí tuệ bắt đầu được thực hiện, tất cả các thủ tục hải quan mới bắt đầu, các quy định mới cho cạnh tranh và các doanh nghiệp nhà nước, các quy tắc về lao động và môi trường có hiệu lực, v.v. Cũng cần lưu ý rằng, hiện tại, những lợi ích này chỉ áp dụng cho các công ty có trụ sở tại các thành viên CPTPP đã hoàn thành các thủ tục phê chuẩn kinh doanh ở một thành viên CPTPP khác cũng đã phê chuẩn thỏa thuận - từ một trong sáu nước thành viên ở một nước thành viên khác trong sáu thành viên này.

Ví dụ, tính đến sáng ngày 31/10, vẫn chưa thể sử dụng CPTPP giữa Singapore và Peru, vì Peru chưa hoàn thành các thủ tục nội bộ của mình. Nhưng các công ty Singapore có thể vận chuyển hàng hóa và dịch vụ với những lợi ích mới đáng kể cho Nhật Bản hoặc Canada và các quốc gia đã phê chuẩn khác từ ngày 30/12 trở đi.

Các nước thành viên còn lại (Brunei, Chile, Malaysia, Peru) cũng có thể bắt đầu thực thi các cam kết hiệp định từ ngày 30/12 nếu quá trình phê chuẩn nội bộ của các nước được đẩy nhanh và sớm hoàn tất. Thông báo chính thức về CPTPP có thể sẽ được thực hiện tại Hội nghị thượng đỉnh APEC sắp tới, tại Papua New Guinea vào giữa tháng 11. Văn bản của CPTPP dài khoảng 580 trang. Các biểu cam kết liên quan là hàng nghìn trang bổ sung. Những biểu cam kết này về những vấn đề như cắt giảm thuế sẽ được điều chỉnh ngay bây giờ để thay đổi vào những ngày cụ thể của năm 1, 2, 3 và... các công ty sẽ cần phải bắt đầu trải qua những gì mà hiệp định này mang lại cho họ.

Nguồn: “Báo Công Thương Điện Tử”

 

Thực thi Hiệp định VPA/FLEGT kỳ vọng sẽ mang lại tác động kép cho ngành gỗ Việt

Email In PDF

Để xuất khẩu gỗ sang thị trường Liên minh châu Âu (EU) thì phải chứng minh được tính hợp pháp nguồn gốc gỗ. Hiệp định VPA/FLEGT đã được ký kết sẽ giúp tăng cường quản trị rừng, giải quyết tình trạng khai thác gỗ bất hợp pháp và thúc đẩy gỗ của Việt Nam XK sang EU; mở rộng "cánh cửa" XK gỗ của Việt Nam ra thị trường thế giới.

Chiều ngày 31/10, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Báo Nông thôn Ngày nay tổ chức Tọa đàm Trực tuyến: “Thực thi Hiệp định VPA/FLEGT: Cơ hội và thách thức với xuất khẩu gỗ Việt Nam”.

EU là thị trường tiêu thụ gỗ lớn thứ 4, chiếm hơn 10% thị phần xuất khẩu gỗ của Việt Nam và hơn 400 doanh nghiệp đang xuất khẩu sang thị trường này. Việt Nam và Liên minh châu Âu đã chính thức ký kết Hiệp định VPA/FLEGT vào ngày 19/10/2018 sau hơn 6 năm đàm phán. Đây là Hiệp định có tính chất giàng buộc pháp lý nhằm cải thiện quản trị rừng và thúc đẩy thương mại gỗ và sản phẩm gỗ hợp pháp xuất khẩu từ Việt Nam sang EU.

Ông Phạm Văn Điển – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp – cho hay: EU được coi là một thị trường vô cùng quan trọng với gỗ Việt, vì vậy, việc ký VPA/FLEGT sẽ giúp các sản phẩm gỗ xuất khẩu trực tiếp vào 28 nước châu Âu mà không cần phải qua một nước trung gian nào. Thị trường sẽ rộng mở hơn, dự đoán trong vài năm nữa, kim ngạch xuất khẩu gỗ sang EU sẽ tăng gấp đôi, từ 700 triệu USD hiện nay lên hơn 1 tỷ USD.

Nhưng điều quan trọng hơn đó là Hiệp định VPA/FLEGT được dự đoán sẽ mang lại tác động tích cực cho Việt Nam trên cả 3 lĩnh vực: kinh tế - xã hội và môi trường, trong đó nổi bật hơn cả là lợi ích về kinh tế, đặc biệt góp phần thúc đẩy thị trường xuất khẩu mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam tại các thị trường khác, nâng cao uy tín và hình ảnh ngành chế biến gỗ xuất khẩu của Việt Nam trên toàn cầu, giúp mở rộng thị trường xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của ta sang các nước ngoài EU như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Úc và các thị trường khác góp phần thực hiện mục tiêu nâng kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt từ 12-13 tỷ USD vào năm 2020, vươn lên đứng thứ 4 thế giới.

Bên cạnh những lợi ích mà Hiệp định VPA/FLEGT mang lại, Hiệp định này cũng phát sinh những nghĩa vụ cho Việt Nam. Bà Nguyễn Tường Vân - Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ và Hợp tác quốc tế (Tổng cục Lâm nghiệp) cho hay: Các cam kết trong Hiệp định VPA/FLEGT về quản lý, kiểm soát gỗ nhập khẩu, phân loại mức độ rủi ro doanh nghiệp, xác minh xuất khẩu và cấp phép FLEGT đặt ra yêu cầu Việt Nam phải sửa đổi, bổ sung một số văn bản quy phạm pháp luật. Cạnh đó, Hiệp định VPA/FLEGT yêu cầu người dân, doanh nghiệp tham gia trong chuỗi cung phải thực hiện đầy đủ việc tự kê khai, tự đánh giá, lưu trữ hồ sơ, giấy tờ trong quá trình sản xuất, kinh doanh theo đúng quy định pháp luật. Hiệp định VPA/FLEGT yêu cầu đảm bảo sự đối thoại cấp cao thường xuyên giữa Việt Nam và EU với sự tham gia của các hiệp hội ngành nghề, tổ chức phi chính phủ trong nước trong quá trình giám sát thực hiện Hiệp định để đảm bảo Hiệp định được thực hiện một cách minh bạch.

Tuy nhiên, bà Vân lưu ý, Hiệp định VPA/FLEGT đã được ký kết nhưng không phải là có hiệu lực ngay mà vẫn cần thời gian để Việt Nam chuẩn bị. Khi Hiệp định VPA/FLEGT chưa được hai bên phê chuẩn và Hệ thống đảm bảo gỗ Việt Nam chưa vận hành đầy đủ, trong đó có cơ chế cấp phép FLEGT thì các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sang EU phải tuân thủ các quy định về hồ sơ xuất khẩu theo quy định pháp luật của Việt Nam tại Thông tư số 01/2012/TT-BNNPTNT và Thông tư số 38/2015/TT-BTC. Ngoài ra, các doanh nghiệp của Việt Nam vẫn phải làm trách nhiệm giải trình về nguồn gốc gỗ theo quy định 995 của EU cho các nhà nhập khẩu EU bao gồm việc cung cấp bằng chứng về gỗ hợp pháp của lô hàng (dịch ra tiếng Anh), đánh giá nhà cung ứng, kế hoạch giảm thiểu rủi ro, lưu trữ hồ sơ… “Sau khi Việt Nam vận hành cơ chế cấp phép FLEGT cho các lô hàng xuất khẩu vào EU thì giấy phép FLEGT sẽ thay thế các giấy tờ mà các DN Việt Nam đang phải nộp cho bên nhập khẩu EU”, bà Vân nói.

Từ nay đến khi Hiệp định chính thức thực thi, sẽ còn nhiều việc phải làm. Tuy nhiên, theo ông Phạm Văn Điển: Hiệp định này đã tạo ra cho Việt Nam vị thế lớn khi tham gia thị trường và chuỗi giá trị gỗ toàn cầu. Tham gia Hiệp định, ngành gỗ Việt sẽ làm chuyên nghiệp hơn, công khai, minh bạch và phù hợp với các công ước, tiêu chuẩn của quốc tế. Đây chính là yếu tố cấu thành giá trị ngành gỗ trong tương lai. Cạnh đó, Việt Nam còn có cơ hội áp dụng công nghệ cao vào ngành chế biến, tạo ra các sản phẩm gỗ đẹp hơn, có giá trị cao hơn.

“Ví dụ gỗ thành phẩm bình thường chỉ có giá 1.400-1.800USD/m3 thì nếu áp dụng công nghệ cao giá thành sẽ lên tới 4.000 USD/m3 gỗ thành phẩm. Hiệp định VPA/FLEGT đem đến cho chúng ta thị trường vô cùng rộng lớn, không sợ ế hàng, không lo bị ép giá”, Phạm Văn Điển nhấn mạnh.

Nguồn: “Báo Công Thương Điện Tử”

 

Phát triển thương mại đầu tư Việt Nam - Romania nhiều cơ hội lớn

Email In PDF

Dẫn đầu hơn 30 doanh nghiệp (DN) Romania đã thực hiện chương trình xúc tiến thương mại và đầu tư tại TP. Hồ Chí Minh mới đây, ông Valentin Brebenel- Vụ trưởng Bộ Thương mại khu vực châu Á của Romania nhấn mạnh Việt Nam và Romania chính thức thiết lập quan hệ từ năm 1950, hai nước luôn giữ quan hệ hữu nghị truyền thống tốt đẹp, hợp tác dựa trên nguyên tắc tôn trọng chủ quyền, hai bên cùng có lợi.

Cần khai thác các tiềm năng thế mạnh

Trong giai đoạn từ 2010- 2018, trong bối cảnh kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường châu Âu tăng liên tục, kim ngạch trao đổi thương mại hai chiều giữa Việt Nam- Romania cũng tăng lên khá nhanh, nhưng chỉ đạt dưới 300 triệu USD/năm, chưa tương xứng với tiềm năng của hai bên. Trong đó, chiếm đa số là xuất khẩu của Việt Nam sang Romania với khoảng 80- 90 triệu USD/năm.

Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang thị trường Romania gồm có cà phê robusta hạt xanh, hàng gia dụng máy tính, phụ tùng máy vi tính, tivi màu, cá tra, cá basa, cao su thiên nhiên và sản phẩm cao su, túi vali giày dép, quần áo và hàng dệt kim... Mặt hàng nhập khẩu từ Romania vào Việt Nam gồm thép tấm các loại, phôi thép, nhựa gia dụng, hóa chất và dược phẩm. 500 triệu USD/năm thương mại hai chiều là mục tiêu quan trọng mà hai nước đặt ra trong năm 2019- ông Valentin Brebenel- Vụ trưởng Bộ Thương mại khu vực châu Á của Romania chia sẻ.

Ngoài ra, hai nước còn nhiều tiềm năng và lợi thế có thể khai thác và phát triển. Romania có kinh nghiệm và công nghệ trong các lĩnh vực năng lượng, khai khoáng, dược phẩm, hóa chất, chế biến gỗ, nông nghiệp và chế biến thực phẩm có thể chia sẻ và hợp tác với Việt Nam.

Tính đến hết năm 2017, Romania đã đầu tư vào Việt Nam 2 dự án với số vốn đăng ký 1,2 triệu USD (xếp thứ 93 trong số 125 nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam). Cùng lúc đó, có 216 công ty Việt Nam đang hoạt động tại Romania với số vốn đăng ký khoảng 2,1 triệu Euro. Đầu tư của Việt Nam sang Romania tuy chưa có dự án nào cụ thể nhưng hiện một số DN Việt Nam đang tiến hành khảo sát để đầu tư vào lĩnh vực xây dựng, hợp tác lao động...

Nhiều cơ hội lớn

Ông Valentin Brebenel cho biết thêm từ ngày 1/1/2019, Romania sẽ là Chủ tịch luân phiên của Liên minh châu Âu (EU), từ đó sẽ dễ dàng hỗ trợ chiến lược các nước khác, trong đó có Việt Nam. Ông Valentin Brebenel cũng mong muốn thúc đẩy việc ký kết hiệp định thương mại tự do giữa châu Âu và Việt Nam, từ đó có nhiều lợi ích về giảm thuế, hỗ trợ phương thức kinh doanh giữa Việt Nam và Romania. “Chúng tôi mong muốn mở cánh cổng cho Việt Nam đến châu Âu, với con số 550 triệu người tiêu dùng tại đây. Chuyến thăm Hà Nội vừa rồi chúng tôi cũng ký kết bản ghi nhớ, tạo cơ hội thuận lợi hơn cho người Việt đến sinh sống và làm việc tại Romania trong thời gian sắp tới” - Ông Valentin Brebenel nói thêm.

Bà Lý Nhã Kỳ- Tổng Lãnh sự danh dự Romania tại TP. Hồ Chí Minh cho biết sẽ nỗ lực thực hiện các chương trình xúc tiến thương mại và đầu tư nhằm khai thác hết các tiềm năng và thế mạnh của DN hai nước cũng như tổ chức các hoạt động để kết nối văn hóa, kinh tế, du lịch giữa hai quốc gia. Bà Lý Nhã Kỳ cũng chia sẻ những ngành nghề mà Việt Nam có thế mạnh và mong muốn tăng cường đẩy mạnh xuất khẩu sang Romania bao gồm cà phê, hải sản và xuất khẩu lao động. Mong muốn sắp tới doanh nhân hai nước được tạo thuận lợi hơn thuận lợi hơn về vấn đề du học, làm việc, định cư, cũng như thúc đẩy Romania có thêm học bổng cho sinh viên Việt Nam, đặc biệt là ở lĩnh vực dầu khí vốn thế mạnh của nước này.

Nguồn: “Báo Công Thương Điện Tử”

 

Kazakhstan mời các doanh nghiệp Việt Nam đến đầu tư và làm việc

Email In PDF

Ông Beketzhan Zhumakhanov- Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Cộng hòa Kazakhstan tại Việt Nam vừa có cuộc trao đổi với báo chí, trưa 24/10 tại Hà Nội, giới thiệu những hoạt động nổi bật gần đây của đất nước, cũng như thế mạnh và tiềm năng của Kazakhstan. Đồng thời ông cũng gửi lời mời tới các doanh nghiệp Việt Nam: “Hãy đến Kazakhstan để đầu tư và làm việc”.

“Chính quyền Tổng thống Kazakhstan - Nursultan Nazarbayev đang tích cực cải thiện môi trường đầu tư và đây là lĩnh vực mà hai nước có thể đẩy mạnh hợp tác cả trên bình diện song phương và hợp tác trong khuôn khổ Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh Kinh tế Á Âu” – Đại sứ Zhumakhanov cho biết.

Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh kinh tế Á – Âu (gồm Nga, Belarus, Kazakhstan, Armenia và Kyrgyzstan) đã chính thức có hiệu lực từ tháng 10/2016, đánh dấu một trang mới trong quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Liên minh kinh tế Á – Âu nói chung, với từng nước thành viên nói riêng. Các doanh nghiệp Việt Nam, Kazakhstan và các nước thành viên khác trong Liên minh sẽ dành cho nhau ưu đãi về thuế, thuế suất sẽ giảm dần bằng 0% (theo lộ trình). Đây là điều kiện tiên quyết để các bên tin tưởng về tăng trưởng kinh tế trong tương lai, Việt Nam và Kazakhstan cũng không ngoại lệ.

Thương mại hai chiều giữa Việt Nam và Kazakhstan năm 2017 đã tăng gần gấp đôi so với năm 2016, tương ứng 542,7 triệu USD và 366,2 triệu USD. Trước đó, năm 2014, kim ngạch hai chiều giữa Kazakhstan và Việt Nam đạt khoảng 270 triệu USD, riêng năm 2015 do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, kim ngạch hai chiều chỉ đạt khoảng 220 triệu USD, nhưng con số này đã tăng đột biến lên 366 triệu USD năm 2016 và đạt 542 triệu USD năm 2017, đạt mức cao nhất so với các nước thành viên còn lại của Liên minh Kinh tế Á - Âu.

Các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam bao gồm điện thoại, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đi kèm, hàng nông sản (gạo, hạt điều, hạt tiêu), hàng rau quả, túi xách, máy móc phụ tùng và sắt thép các loại.

Việt Nam nhập khẩu từ Kazakhstan các sản phẩm: hóa chất, quặng và khoáng sản, lúa mỳ…

Trước năm 2016, Việt Nam xuất siêu sang thị trường Kazakhstan chủ yếu là các mặt hàng điện thoại di động, linh kiện, hàng điện tử và phụ kiện đi kèm, hàng nông sản, thủy sản, hàng dệt may, giày da, ... Tuy nhiên, trong năm 2017, lần đầu tiên Kazakhstan xuất siêu sang Việt Nam với các mặt hàng là thế mạnh như: sắt, thép, quặng các loại, máy móc nông nghiệp, các sản phẩm từ lúa mì, lúa mạch,...

“Nông nghiệp là lĩnh vực tiềm năng mà các doanh nghiệp hai bên nên tận dụng thế mạnh của nhau để khai thác. Kazakhstan có lợi thế chăn nuôi và trồng trọt các sản phẩm mà Việt Nam không có, ngược lại Việt Nam lại có thế mạnh về các loại hoa quả vùng nhiệt đới và thủy hải sản. Hai bên sẽ bổ sung cho nhau mà không có sự cạnh tranh trực tiếp” – Đại sứ Zhumakhanov nói.

Đại sứ cũng thông tin thêm, tháng 7 vừa qua, tại thành phố Astana, Kazakhstan đã khai trương Trung tâm tài chính Astana (AIFC), đây là trung tâm duy nhất trong khu vực được xây dựng dựa trên hệ thống luật pháp Anh, có tòa độc lập và trung tâm trọng tài quốc tế. Các doanh nghiệp thành viên của AIFC sẽ được cấp quyền lợi thuế lên đến 50 năm và được tiếp cận nguồn vốn không chỉ của Kazakhstan mà của toàn bộ khu vực nói chung.

Về sáng kiến của Kazakhstan trong việc vận chuyển hàng hóa qua tuyến đường sắt Việt Nam – Kazakhstan (qua Trung Quốc), các bên cũng đã thống nhất phát triển chung theo 2 hướng vận chuyển hàng hóa, thông qua bến cảng Kazakhstan – Trung Quốc tại Liên Vân Cảng và qua 2 ga giáp biên giới Việt – Trung Bằng Tường (từ phía Trung Quốc) và Đồng Đăng (từ phía Việt Nam) để đảm bảo các toa xe container được vận chuyển thẳng giữa hai nước, cũng như đi theo hướng các nước châu Âu, Nga, các nước Trung Á và ngược lại.

Hiện các bên cũng đã xác định được nhà điều hành tuyến logistics này, phía Kazakhstan là CTCP KTZ Express; phía Việt Nam là Công ty Ratraco.

Tuyến Liên Vân Cảng đã đi vào hoạt động được 2 năm, hiện 2 tuần có 1 chuyến đi châu Âu. Phía Liên Vân Cảng có 3 kho bãi tập kết hàng từ khu vực Đông Nam Á sang châu Âu, Kazakhstan cũng tạo mọi điều kiện về kho bãi.

“Thay vì hàng hóa vận chuyển bằng đường biển sẽ mất 45-60 ngày, thì đi bằng đường sắt chỉ mất 18 ngày. Tuyến đường này cũng sẽ kết nối thuận lợi cho hàng hóa của Việt Nam (cũng như các nước ASEAN) đi các nước châu Âu, sau khi Việt Nam ký FTA với liên minh châu Âu. Thời gian vận chuyển hàng hóa từ Liên Vân Cảng tới ga Duisburg (Đức) cũng chỉ mất 16 ngày, thay vì 45-50 ngày bằng đường biển từ Việt Nam tới châu Âu” – Đại sứ nói thêm.

Nguồn: “Báo Công Thương Điện Tử”

 

Cơ hội 'vàng' thúc đẩy hợp tác kinh tế Việt Nam – Romania

Email In PDF

Năm 2019, Romania sẽ giữ chức vụ Chủ tịch luân phiên Liên minh châu Âu (EU), Bộ trưởng Môi trường kinh doanh Thương mại và Doanh nhân Romania đồng thời sẽ là Chủ tịch Hội đồng Các Bộ trưởng kinh tế của EU. Đây là cơ hội "vàng" để Romania và Việt Nam thúc đẩy hợp tác kinh tế, thương mại.

Thông điệp nêu trên đã được ông Valeriu Arteni - Đại biện lâm thời Đại sứ quán Romania tại Việt Nam đưa ra tại cuộc Tọa đàm Giới thiệu thị trường Romania ở Hà Nội, chiều ngày 22/10/2018, do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp Đại sứ quán Romania tổ chức, nhân chuyến thăm Việt Nam từ ngày 20-27/10/2018 của ông Stefan Radu Oprea - Bộ trưởng Bộ Môi trường kinh doanh Thương mại và Doanh nhân Romania.

Theo ông Đoàn Duy Khương - Phó Chủ tịch VCCI, Việt Nam và Romania đã có quan hệ truyền thống hơn nửa thế kỷ, mối quan hệ này vẫn được duy trì, thúc đẩy thường xuyên trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi. Nền kinh tế 2 nước có thể hợp tác tương hỗ lẫn nhau triển tốt. Trong đó, Romania là thị trường lớn nhất vùng Nam Âu với 21 triệu dân, có vai trò cửa ngõ vào thị trường EU với 500 triệu dân, có vị trí địa lý là đầu mối 3 hành làng kinh tế của EU, rất thuận lợi về vận tải biển đi các nước EU.

Trong khi đó, Việt Nam là một thị trường lớn của ASEAN với trên 90 triệu dân, tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) quốc tế đa phương và song phương có thể tận dụng tiếp cận đến thị trường hơn 50 nền kinh tế lớn trên thế giới. Việt Nam được đánh giá là điểm đến an toàn với các nhà đầu tư nước ngoài. Nền kinh tế Việt Nam có các thế mạnh về nông sản, trong khi đó Romania có thế mạnh chế biến nông sản, có nhu cầu về hang hóa nông sản nhiệt đới. Các lĩnh vực khác Romania có thế mạnh như dược phẩm, hóa chất, dầu khí, đóng tầu... cũng đều là những lĩnh vực Việt Nam đang cần ưu tiên phát triển và hợp tác.

Tuy nhiên, ông Khương khẳng định, đến nay quan hệ về kinh tế, thương mại giữa Việt Nam và Romania vẫn còn rất khiêm tốn. Tổng kim ngạch thương mại 2 chiều Việt Nam - Romania mới đạt trên 200 triệu USD/năm. Trong khi độ mở của nền kinh tế hai nước khá cao, trong đó tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Romania khoảng 63 tỷ USD/năm, của Việt Nam là khoảng 400 tỷ USD/năm. Điều này cho thấy, quan hệ kinh tế, thương mại giữa hai nước vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, hai bên cần nỗ lực thúc đẩy.

Đồng quan điểm với ông Khương, ông Valeriu Arteni cho biết, đây là lần đầu tiên sau 23 năm một Bộ trưởng kinh tế của Romania sang thăm Việt Nam nhằm thúc đẩy hợp tác kinh tế, thương mại.... Trong bối cảnh Việt Nam và EU đang hướng tới chính thức ký kết và thực thi Hiệp định Thương mại tự do EVFTA, đặc biệt trong năm 2019, Romania sẽ đảm đương chức vụ Chủ tịch luân phiên EU, ông Stefan Radu Oprea đồng thời cũng sẽ là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kinh tế thương mại của EU. “Đây sẽ là một cơ hội "vàng" để hai bên thúc đẩy hợp tác kinh tế, thương mại và gắn kết cộng đồng doanh nghiệp hai nước” - ông Valeriu Arteni phát biểu.

Đại diện Đại sứ quán Romania kỳ vọng từ cuộc tọa đàm này, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ nắm bắt thông tin về cơ hội, các chính sách thút hút đầu tư vào thị trường Romania và sẽ tìm được đối tác doanh nghiệp của Romania để hợp tác đầu tư trong thời gian tới, phù hợp với nhu cầu, lợi thế, mang lại lợi ích cho cả hai bên, thúc đẩy mối quan hệ hợp tác hai nước ngày càng phát triển. Về phía VCCI, ông Đoàn Duy Khương khẳng định, sẽ tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại, đầu tư để hỗ trợ, kết nối cộng đồng doanh nghiệp hai nước.

Nguồn: “www.chinhphu.vn”

 

Đối thoại chính sách với doanh nghiệp Hàn Quốc: Thúc đẩy hợp tác kinh tế

Email In PDF

Các cuộc đối thoại về chính sách thuế, hải quan giữa Bộ Tài chính Việt Nam với DN Hàn Quốc góp phần tích cực thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại… giữa hai nước.

Tại Hội nghị "Đối thoại về thủ tục hành chính thuế, hải quan lần thứ 11" giữa Bộ Tài chính với 250 DN Hàn Quốc đang đầu tư ở Việt Nam được tổ chức tại Hà Nội mới đây, bà Vũ Thị Mai - Thứ trưởng Bộ Tài chính - cho biết: Đến nay, Hàn Quốc có 6.760 dự án đầu tư ở Việt Nam còn hiệu lực, với số vốn đăng ký 59 tỷ USD, đứng thứ nhất về số vốn đăng ký và số dự án trong tổng số 125 quốc gia, vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam. Các dự án lớn của DN Hàn Quốc tập trung nhiều trong lĩnh vực công nghiệp chế tạo, bất động sản, năng lượng, cơ khí, điện...; tạo ra việc làm cho trên 700.000 lao động, đóng góp khoảng 30% tổng giá trị XK hàng hóa của Việt Nam.

Thứ trưởng Vũ Thị Mai khẳng định, trong quá trình đưa các chính sách thuế, hải quan… vào thực tiễn, sẽ không tránh khỏi phát sinh khó khăn, vướng mắc khi thực thi đối với DN. Do vậy, Bộ Tài chính luôn lắng nghe ý kiến phản hồi từ cộng đồng DN để hoàn thiện chính sách, góp phần cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh. Qua đó, góp phần giúp các DN Hàn Quốc đầu tư, kinh doanh hiệu quả, đóng góp tích cực phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam.

Hơn 20 vấn đề thắc mắc, kiến nghị liên quan đến chính sách, thủ tục hành chính về thuế và hải quan như thuế xuất nhập khẩu; quy trình thủ tục hải quan; vấn đề cấp C/O; ưu đãi thuế… các DN của Hàn Quốc đưa ra tại hội nghị đã được lãnh đạo Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan, Tổng cục Thuế trực tiếp giải đáp, hướng dẫn cụ thể.

Phát biểu tại hội nghị, Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Hàn Quốc tại Việt Nam Kim Do Hyon cho biết: Quy mô trao đổi thương mại giữa Hàn Quốc và Việt Nam tăng trưởng nhanh chóng qua từng năm. Lãnh đạo hai nước đã đặt mục tiêu đạt kim ngạch thương mại song phương 100 tỷ USD vào năm 2020. "Các cuộc đối thoại với DN Hàn Quốc thể hiện sự quan tâm của Chính phủ Việt Nam trong việc tạo điều kiện cho đầu tư của Hàn Quốc phát huy hiệu quả. Điều này sẽ góp phần tích cực thúc đẩy mối quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư giữa hai nước ngày càng phát triển hơn" - ông Kim Do Hyon nhấn mạnh.

Nguồn: “Báo Công Thương Điện Tử”

 

Tạo điều kiện doanh nghiệp Việt Nam- Bờ biển Ngà mở rộng hợp tác đầu tư kinh doanh

Email In PDF

Ngày 21/9/2018, tại trụ sở Bộ Công Thương, Thứ trưởng Cao Quốc Hưng đã có buổi tiếp xã giao Ngài Emmanuel Esmel ESSIS, Quốc vụ khanh phụ trách Xúc tiến Đầu tư tư nhân nước Cộng hòa Bờ biển Ngà nhân chuyến thăm Việt Nam cùng đoàn xúc tiến giao thương và nghiên cứu thị trường của 4 quốc gia châu Phi từ ngày 16 đến ngày 22/9/2018.

Tại buổi tiếp, Thứ trưởng Cao Quốc Hưng hoan nghênh ngài Quốc vụ khanh đã dành thời gian đến làm việc với Bộ Công Thương để trao đổi về tình hình hợp tác song phương trong lĩnh vực thương mại và công nghiệp. Thứ trưởng cho biết quan hệ thương mại giữa hai nước đã và đang có những bước phát triển tốt đẹp và là điểm sáng trong quan hệ song phương những năm gần đây. Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam, tổng kim ngạch trao đổi thương mại năm 2017 giữa Việt Nam và Bờ biển Ngà đã đạt mức kỷ lục trên 1 tỷ USD, đưa Bờ biển Ngà trở thành đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam tại châu Phi. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt 126 triệu USD, tăng 4% và nhập khẩu đạt 892 triệu USD, tăng 27% so với năm 2016. Riêng trong 6 tháng đầu năm 2018, Việt Nam xuất khẩu sang Bờ biển Ngà đạt 38,8 triệu USD và nhập khẩu từ thị trường này đạt 261 triệu USD. Bờ biển Ngà được đánh giá là thị trường nhiều triển vọng, có nhu cầu nhập khẩu lớn các mặt hàng nông sản và cũng là đối tác cung cấp nguyên liệu đầu vào quan trọng cho Việt Nam.

Thay mặt đoàn công tác, Ngài Emmanuel Esmel ESSIS bày tỏ lời cảm ơn Thứ trưởng Cao Quốc Hưng đã dành thời gian tiếp đoàn. Nhân dịp này, Ngài Quốc Vụ Khanh cũng giới thiệu đôi nét về nền kinh tế Bờ biển Ngà, kế hoạch phát triển, công nghiệp hóa đất nước và kêu gọi đầu tư Việt Nam, nhất là trong các lĩnh vực nông sản và xây dựng; đồng thời bày tỏ mong muốn thúc đẩy hợp tác giữa hai Bên về đào tạo nhân lực, học tập kinh nghiệm, kỹ thuật và công nghệ chế biến điều của Việt Nam.

Nhằm tăng cường hơn nữa quan hệ hợp tác kinh tế thương mại giữa Việt Nam và với Bờ biển Ngà, Thứ trưởng Cao Quốc Hưng cũng đề xuất hai Bên cần tích cực trao đổi đoàn các cấp; xem xét, đàm phán ký kết các Bản ghi nhớ về hợp tác công nghiệp, xúc tiến thương mại; tạo điều kiện cho doanh nghiệp các Bên tìm kiếm cơ hội hợp tác đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp khai khoáng, xây dựng; khuyến khích và tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp sang dự hội chợ, triển lãm quốc tế tổ chức tại mỗi nước; đề nghị phía Bờ biển Ngà tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam có thể nghiên cứu, đầu tư vào một số lĩnh vực cụ thể như máy móc nông nghiệp, chế biến nông sản, dệt may.

Ngài Quốc Vụ Khanh nhất trí và cam kết sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp hai Bên tìm kiếm cơ hội mở rộng hợp tác đầu tư kinh doanh, đồng thời bày tỏ mong muốn Hãng hàng không quốc gia Việt Nam sẽ sớm thiết lập đường bay sang Bờ biển Ngà để thúc đẩy giao thương và phát triển du lịch, góp phần vào sự phát triển chung trong mối quan hệ giữa hai nước trên mọi lĩnh vực.

Nguồn: “Báo Công Thương Điện Tử”

 

Doanh nghiệp Ba Lan quan tâm đến cơ hội kinh doanh tại Việt Na

Email In PDF

Các Doanh nghiệp Ba Lan bày tỏ quan tâm đến các cơ hội kinh doanh tại Việt Nam, đánh giá cao vị trí đặc biệt quan trọng của Việt Nam trong mạng lưới kinh doanh tại khu vực ASEAN và châu Á-Thái Bình Dương.

Trong khuôn khổ chuyến thăm làm việc tại Cộng hòa Ba Lan, chiều 21/9, Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình đã dự và có bài phát biểu quan trọng tại Hội thảo Hợp tác Kinh tế Việt Nam-Ba Lan tổ chức tại Thượng viện Ba Lan.

Hội thảo có sự tham dự của Phó Chủ tịch Thượng viện, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Khoa học và Giáo dục Đại học, Bộ trưởng Văn phòng Tổng thống, nhiều nghị sỹ, đại diện các bộ ngành, địa phương Ba Lan, lãnh đạo một số trường đại học lớn, đại diện các tập đoàn, doanh nghiệp Ba Lan.

Phát biểu tại Hội thảo, Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình đã thông báo tình hình phát triển kinh tế của Việt Nam, với mức tăng trưởng năm 2017 đạt 6,81%, mức cao nhất của giai đoạn 2011-2017. Phó Thủ tướng giới thiệu về môi trường kinh doanh, đầu tư, về quy mô và tiềm lực kinh tế, về mức độ hội nhập quốc tế và các quyết tâm đổi mới, cải cách để thích ứng với bối cảnh mới, nhất là của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

Phó Thủ tướng cũng nhấn mạnh quan hệ hữu nghị và hợp tác truyền thống giữa Việt Nam và Ba Lan đang phát triển tích cực trong thời gian qua. Ba Lan đang là bạn hàng lớn nhất của Việt Nam tại khu vực Trung Đông Âu và Việt Nam cũng là đối tác thương mại lớn thứ 7 ngoài EU của Ba Lan với kim ngạch thương mại hai chiều năm 2017 đã cán mốc kỷ lục 1,05 tỷ USD và tổng vốn đầu tư đạt hơn 230 triệu USD.

Nhiều doanh nghiệp lớn của Việt Nam cũng đang triển khai các dự án đầu tư sang Ba Lan, nổi bật nhất là dự án của Vinamilk trị giá 3 triệu USD.

Để tiếp tục duy trì xu thế này, nhất là trong bối cảnh Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-EU (EVFTA) sắp được ký kết, Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình đã kêu gọi và khuyến khích các doanh nghiệp Việt Nam và Ba Lan cùng chuẩn bị sẵn các kế hoạch đầu tư vào những lĩnh vực hai bên cùng quan tâm, đặc biệt là môi trường, nông nghiệp, chế biến thực phẩm… và nhấn mạnh Chính phủ Việt Nam cũng khuyến khích doanh nghiệp Việt Nam hợp tác đầu tư tại Ba Lan trong những lĩnh vực như công nghệ thông tin, sản xuất hàng tiêu dùng để tiếp cận thị trường Ba Lan và các nước EU.

Đại sứ Việt Nam tại Ba Lan Vũ Đăng Dũng và Thứ trưởng Bộ Công Thương Đặng Hoàng An cũng có các phát biểu giới thiệu các cơ hội hợp tác cụ thể giữa hai nước và trả lời các câu hỏi của các đại biểu.

Các đại biểu và doanh nghiệp Ba Lan bày tỏ ấn tượng trước những thành tựu kinh tế, xã hội mà Việt Nam đạt được trong thời gian qua, bày tỏ quan tâm đến các cơ hội kinh doanh tại Việt Nam và đánh giá cao vị trí đặc biệt quan trọng của Việt Nam trong mạng lưới kinh doanh tại khu vực ASEAN và châu Á-Thái Bình Dương.

Nhiều đại diện các công ty Ba Lan đánh giá cao chủ trương và quyết tâm của Chính phủ Việt Nam trong nỗ lực hoàn thiện môi trường đầu tư kinh doanh, khẳng định mong muốn tăng cường, mở rộng đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam nhằm khai thác tính bổ trợ cho nhau giữa hai nền kinh tế, đón bắt những cơ hội phát triển mới mà Hiệp định EVFTA đem lại cho các doanh nghiệp của cả hai bên.

Đại diện một số trường đại học Ba Lan bày tỏ mong muốn tăng cường hợp tác, trao đổi sinh viên, đồng thời khuyến nghị các cơ quan chức năng Ba Lan tạo thuận lợi về thủ tục cho các sinh viên Việt Nam sang Ba Lan học tập. Nhân dịp này, Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình cũng đã đến thăm Đại sứ quán Việt Nam tại Ba Lan, gặp gỡ và nói chuyện với cán bộ Đại sứ quán và đại diện cộng đồng người Việt Nam tại Ba Lan.

Phó Thủ tướng Thường trực đánh giá Đại sứ quán thời gian qua đã làm tốt công tác chính trị, chuyên môn, công tác bảo hộ công dân, đóng góp tích cực cho việc củng cố quan hệ Việt Nam-Ba Lan. Phó Thủ tướng Thường trực lắng nghe phát biểu của đại diện cộng đồng, đánh giá cộng đồng người Việt tại Ba Lan luôn đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau, hội nhập tốt vào nước sở tại, đề nghị cộng đồng, nhất là các doanh nghiệp, là cầu nối cho mối quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa hai nước.

Nguồn: “Báo Công Thương Điện Tử”

 

Doanh nghiệp Việt Nam 'chuộng' nhất đối tác Đông Á Thái Bình Dương

Email In PDF

Đây là thông tin từ kết quả tổng điều tra kinh tế năm 2017 do Tổng cục Thống kê công bố tại Hà Nội ngày 19/9/2018. Theo đó mức độ sẵn sàng cho tham gia hội nhập quốc tế của doanh nghiệp là khá cao tuy nhiên vẫn kỳ vọng khá nhiều vào sự hỗ trợ từ các cơ quan nhà nước.

Mục đích của việc tổng điều tra kinh tế năm 2017 là nhằm đánh giá sự phát triển về số lượng và lao động của các đơn vị kinh tế, hành chính, sự nghiệp, bao gồm đến cấp đơn vị cơ sở; kết quả sản xuất, kinh doanh; mức độ ứng dụng công nghệ thông tin; cơ cấu và sự phân bổ của các cơ sở, của lao động theo địa phương, ngành kinh tế, hình thức sở hữu, đáp ứng yêu cầu quản lý của Đảng, Nhà nước, các Bộ, ngành, địa phương.

Kết quả điều tra cho thấy, có tới 94,5% doanh nghiệp cho rằng họ biết đến các hiệp định thương mại mà Việt Nam tham gia trong khi chỉ có 5,5% doanh nghiệp nói rằng không biết đến các hiệp định. 86,9% doanh nghiệp biết đến các hiệp định thương mại thông qua kênh truyền thông; 16,3% qua các hiệp hội; 15,1% do cơ quan quản lý nhà nước; 10,8% từ đối tác kinh doanh; 8,8% qua các kênh thông tin khác.

Có tới 83,9% doanh nghiệp ủng hộ Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại quốc tế (trong đó 53,3% doanh nghiệp rất ủng hộ), 2,9% doanh nghiệp cho rằng ký cũng được mà không ký cũng được, 12,6% doanh nghiệp không có ý kiến, chỉ có 0,6% doanh nghiệp hoàn toàn phản đối. Đáng chú ý số lượng doanh nghiệp ủng hộ việc Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại song đi kèm đó là tâm trạng lo lắng chiếm đến 30,6% số doanh nghiệp

Việt Nam hiện tham gia nhiều hiệp định thương mại song tỷ lệ doanh nghiệp đánh giá ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của các hiệp định này là không như nhau. Theo đó hiệp định với cộng đồng kinh tế ASEAN có tới 81,1% số doanh nghiệp đánh giá có ảnh hưởng; Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương có 77,1%; Việt Nam - Nhật Bản 69,1%; Việt Nam - Hàn Quốc 62,4%; Việt Nam - Liên minh châu Âu 61,0%; Việt Nam - Liên minh kinh tế Á Âu 57,6% trong khi các hiệp định khác chỉ có 5,6%. Trong các nội dung của hiệp định thương mại, có 38,8% doanh nghiệp đánh giá nội dung về thương mại hàng hóa có tác động tích cực nhất đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, có 36,8% doanh nghiệp cho rằng đầu tư là nội dung tiếp theo tác động tích cực, thương mại điện tử là 35,1%, lao động là 31,2%.

Đặc biệt khi được hỏi về ảnh hưởng và tác động có lợi khi quan hệ với các đối tác nước ngoài, có 42,1% doanh nghiệp lạc quan với đối tác khu vực Đông Á Thái Bình Dương; 42% doanh nghiệp lạc quan với đối tác Mỹ; 35% doanh nghiệp lạc quan với đối tác Đông Nam Á và châu Âu; 23,6% doanh nghiệp lạc quan với đối tác Trung Quốc và 20,7% lạc quan với đối tác châu Mỹ La tinh.

Liên quan đến những mong muốn của doanh nghiệp từ Chính phủ và các cơ quan Nhà nước nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp khi Việt Nam thực hiện các hiệp định thương mại, có tới 84,6% doanh nghiệp mong muốn đơn giản hóa thủ tục hành chính, 69,4% doanh nghiệp muốn được hỗ trợ cung cấp và hướng dẫn chi tiết thông tin về hiệp định, 55,3% doanh nghiệp muốn có được thông tin về thị trường nước ngoài từ Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước, 48,9% doanh nghiệp muốn có thông tin về thị trường trong nước.

Nguồn: “Báo Công Thương Điện Tử”

 

Rộng mở tương lai hợp tác kinh tế thương mại Việt Nam– Hoa Kỳ

Email In PDF

Ngày 10/9, tại Hà Nội, Hiệp hội Thương mại Hoa Kỳ AmCham phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam VCCI và Phòng Thương mại Hoa Kỳ đã phối hợp tổ chức Hội nghị thượng đỉnh kinh doanh Hoa Kỳ - Việt Nam 2018 với chủ đề “Định hình tương lai quan hệ kinh tế song phương”.

Hội nghị là cầu nối giữa chính phủ và lãnh đạo đến từ hai quốc gia thảo luận phương thức hợp tác hiệu quả giữa Việt Nam với các nhà đầu tư và doanh nghiệp Hoa Kỳ trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Đồng thời đề cập tới những phương thức để tiếp tục xúc tiến thương mại và đầu tư giữa 2 nước.

Hợp tác kinh tế là động lực quan trọng

Phát biểu tại Hội nghị, Phó Thủ tướng Chính phủ Trịnh Đình Dũng cho biết, quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ đã chứng kiến sự thay đổi cả về chất, tầm mức và chiều sâu với nhiều sự kiện mang dấu ấn lịch sử, như việc hai nước đã xác lập khuôn khổ quan hệ Đối tác toàn diện vào năm 2013; chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ đầu tiên của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vào năm 2015.

Trong năm 2017, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc là lãnh đạo một nước ASEAN đầu tiên thăm chính thức Hoa Kỳ vào tháng 5/2017 sau khi Tổng thống Donald Trump nhậm chức. Tổng thống Trump cũng đã thăm chính thức Việt Nam vào tháng 11/2017 ngay trong năm đầu nhậm chức.

Trong những năm qua, hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư đã trở thành nền tảng và động lực quan trọng của quan hệ hai nước. Việt Nam luôn coi trọng và đánh giá cao các dự án đầu tư, kinh doanh của các doanh nghiệp Hoa Kỳ. Hoa Kỳ đã trở thành một trong những đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam. Kim ngạch thương mại hai nước từ mức 7.8 tỷ USD năm 2005 đã tăng lên mức trên 54 tỷ USD năm 2017. Riêng năm 2018, tính đến hết quý II, kim ngạch xuất nhập khẩu hai nước đạt 27,4 tỷ USD, trong đó nhập khẩu từ Hoa Kỳ tăng hơn 20%.

Hiện nay, các mặt hàng thế mạnh xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ chủ yếu là thủy sản, hạt điều, dệt may, giày dép, .. và nhập khẩu từ Hoa Kỳ sản phẩm công nghệ cao. Đặc biệt, nhiều hợp đồng và thỏa thuận mua máy bay và động cơ máy bay với giá trị hàng tỷ USD đã và đang được đàm phán giữa doanh nghiệp hai nước trong thời gian gần đây.

Về đầu tư, đến tháng 6 năm 2018, Hoa Kỳ có 877 dự án còn hiệu lực với tổng số vốn 9.37 tỷ USD, đứng thứ 10 trong số 128 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư trực tiếp vào Việt Nam. Lãnh đạo các doanh nghiệp Hoa Kỳ đều đánh giá cao môi trường đầu tư kinh doanh của Việt Nam và mong muốn đầu tư lâu dài tại Việt Nam, trong đó có những doanh nghiệp giàu kinh nghiệm và uy tín thế giới.

Đặc biệt, các dự án đầu tư của các tập đoàn Hoa Kỳ trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, năng lượng sạch và bền vững, dầu khí, kết cấu hạ tầng, tài chính ngân hàng, giáo dục đào tạo, du lịch, nông nghiệp, công nghệ cao... đang được đẩy mạnh kêu gọi đầu tư trong thời gian tới, bên cạnh những lĩnh vực truyền thống trước đây như nông sản, thủy sản...

Phó Thủ tướng cũng cho rằng, những diễn biến gần đây trong các thỏa thuận hợp tác kinh tế đa phương và khu vực đang đặt ra những thách thức mới cho cả các Chính phủ và doanh nghiệp hai nước.

Do đó, doanh nghiệp hai nước cần cùng nhau đưa ra những đánh giá và đề xuất giải pháp mới, góp phần duy trì đà tăng trưởng tích cực của quan hệ hợp tác kinh tế giữa hai nước, đề xuất được những cơ hội mới, hướng đi mới, phát huy tinh thần khởi nghiệp và sáng tạo trong kinh doanh, góp phần thúc đẩy quan hệ kinh tế - thương mại, đầu tư song phương nói riêng và quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ nói chung.

“Chúng tôi sẽ tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư trong đó có các nhà đầu tư Hoa Kỳ triển khai các hoạt động đầu tư, kinh doanh thành công, bền vững và lâu dài tại Việt Nam. Thành công của các bạn là thành công của Việt Nam” – Phó Thủ tướng nhấn mạnh. Đồng thời ông bày tỏ mong muốn ngày càng có nhiều doanh nghiệp Hoa Kỳ đầu tư vào các lĩnh vực Việt Nam có nhu cầu như năng lượng tái tạo, năng lượng sạch trong đó có năng lượng tái tạo, dầu khí, kết cấu hạ tầng, giáo dục đào tạo, du lịch, nông nghiệp, công nghệ cao, tài chính ngân hàng…

Điểm đến đầu tư hấp dẫn

Cũng tại Hội nghị, Thứ trưởng phụ trách Thương mại quốc tế, Bộ Thương mại Hoa Kỳ Gilbert Kaplan khẳng định, Hoa Kỳ cam kết trở thành đối tác mạnh của Việt Nam trong mọi lĩnh vực, đặc biệt là hợp tác kinh tế - thương mại - đầu tư. Chính phủ Hoa Kỳ luôn khuyến khích doanh nghiệp sang tìm hiểu cơ hội, mở rộng đầu tư tại Việt Nam.

Bày tỏ ấn tượng về sự phát triển năng động của Việt Nam, ông Gilbert Kaplan cho biết, với 93 triệu người tiêu dùng và tầng lớp trung lưu phát triển nhanh nhất khu vực, Việt Nam chính là điểm đến đầu tư kinh doanh hấp dẫn của nhiều doanh nghiệp Hoa Kỳ.

Được biết, trong 5 năm qua, hàng hóa của thị trường này tới Việt Nam đã tăng 61%. Bên cạnh đó, thâm hụt thương mại của Hoa Kỳ với Việt Nam đứng thứ 5 so với thâm hụt thương mại của nước này với các đối tác, đó là mức thâm hụt thương mại lớn nhất mà Hoa Kỳ có được trong số các đối tác thương mại tại Đông Nam Á.

Gần đây, hãng hàng không Boeing của Hoa kỳ đã có hai hợp đồng lớn với hãng hàng không Bamboo Airways và Vietjet của Việt Nam. Tháng 6 vừa qua, nhân chuyến thăm của Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ tới Hoa Kỳ, Boing và Bamboo đã ký cam kết ban đầu cho việc cung cấp 20 máy bay 787-9 Dreamliner với giá trị khoảng 5,6 tỷ USD. Sau đó, trong tháng 7/2018, Boeing và Vietjet đã ký bản ghi nhớ có giá trị 12,7 tỷ USD.

Thứ trưởng Gilbert Kaplan cho biết thêm, trong hai ngày tới, ông sẽ có cơ hội gặp gỡ các đối tác của Việt Nam để tìm hướng mở rộng thị trường và tăng cường quan hệ thương mại hai bên, tập trung vào một số lĩnh vực: an ninh mạng, công nghệ thông tin, ô tô, nông nghiệp và sở hữu trí tuệ. Trước đó, Bộ Thương mại Hoa Kỳ cũng đã đưa ra những nhóm lĩnh vực cụ thể để thúc đẩy hợp tác với Việt Nam, đó là: hàng không, năng lượng, y tế, thành phố thông minh và thương mại số. Trong đó, nhóm làm việc về năng lượng đã tạo ra nhiều cơ hội hợp tác của hai bên vì Việt Nam có nhu cầu năng lượng lớn (tăng trưởng 10-20% đến năm 2020), trong khi các hãng năng lượng của Hoa Kỳ có khả năng đáp ứng nhu cầu này.

Ông Gilbert Kaplan cũng bày tỏ hi vọng Việt Nam và Hoa Kỳ sẽ khai thác đường bay thẳng vào cuối năm 2019, qua đó, mối quan hệ hợp tác kinh tế thương mại, đầu tư và giao lưu nhân dân giữa hai nước sẽ được tăng trưởng và mở rộng hơn nữa.

Nguồn: “Báo Công Thương Điện Tử”

 

Trên 150 doanh nghiệp Việt Nam giới thiệu nhiều mặt hàng xuất khẩu thế mạnh tại CAEXPO 2018

Email In PDF

Trên 150 doanh nghiệp Việt Nam đã lên đường sang Nam Ninh, Trung Quốc, tích cực chuẩn bị hơn 250 gian hàng để trưng bày hàng nghìn chủng loại mặt hàng xuất khẩu thế mạnh sang thị trường Trung Quốc tại Hội chợ Trung Quốc-ASEAN lần thứ 15 (CAEXPO 2018), diễn ra từ ngày 12-15/9/2018.

Hội chợ CAEXPO là hoạt động hợp tác đa phương giữa ASEAN và Trung Quốc được tổ chức thường niên qua nhiều năm, trong đó Trung Quốc đóng vai trò là nước chủ nhà đăng cai tổ chức. Các kỳ hội chợ CAEXPO luôn mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia.

Năm nay, Đoàn Việt Nam do Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ dẫn đầu cùng lãnh đạo Bộ Công Thương và lãnh đạo một số bộ, ngành, địa phương trên cả nước sẽ tham dự Lễ khai mạc và các hoạt động chính tại hội chợ.

Đoàn doanh nghiệp Việt Nam tham gia Hội chợ CAEXPO 2018 do Cục Xúc tiến thương mại trực tiếp tổ chức tiếp tục có quy mô lớn nhất trong số các nước ASEAN, chỉ đứng sau nước chủ nhà Trung Quốc, sẽ tiếp tục khẳng định uy tín, vị thế của Việt Nam trong quan hệ hợp tác kinh tế giữa ASEAN-Trung Quốc. Bên cạnh các mục tiêu thương mại và đầu tư, sự tham gia của Việt Nam tại kỳ hội chợ tới đây sẽ góp phần quảng bá hiệu quả hình ảnh quốc gia, hình ảnh thương hiệu, sản phẩm Việt Nam với thị trường Trung Quốc và các đối tác tiềm năng tham gia hội chợ đến từ các nước ASEAN.

Ông Vũ Bá Phú, Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương khẳng định: "Thông qua Hội chợ CAEXPO với quy mô rất lớn tới trên 5.000 gian hàng tiêu chuẩn lần này, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ có cơ hội tìm hiểu cụ thể về những xu hướng tiêu dùng mới, cũng như tiếp cận được trực tiếp các kênh phân phối, các đối tác nhập khẩu và đầu tư triển vọng của không chỉ thị trường Trung Quốc mà còn cả các nước ASEAN khác tham gia hội chợ”.

Khu gian hàng của các doanh nghiệp Việt Nam với sự tham gia của hơn 150 doanh nghiệp với các ngành hàng có sức cạnh tranh và phát triển thị trường xuất khẩu như: Nông sản, thủy sản và thực phẩm, hàng tiêu dùng, hàng thủ công mỹ nghệ và đồ gỗ… sẽ là cơ hội để tăng cường xuất khẩu các mặt hàng có thế mạnh sang Trung Quốc và các nước ASEAN, cũng như những lĩnh vực thu hút đầu tư đầy triển vọng của Việt Nam. Tỉnh Bến Tre được vinh dự lựa chọn là thành phố chủ đề đại diện cho Việt Nam, quảng bá những nét đặc trưng và tiềm năng phát triển kinh tế, văn hóa, du lịch của tỉnh Bến Tre nói riêng và của Việt Nam nói chung.

Trong số các doanh nghiệp Việt Nam tham gia CAEXPO 2018, có nhiều doanh nghiệp có sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia và những doanh nghiệp lớn của Việt Nam như Đường Quảng Ngãi, Tập đoàn Lộc Trời, Vinacafe Biên Hòa, Cà phê Trung Nguyên, Vinamilk, TH Truemilk, Bitis, Cà phê Dakmak... Đặc biệt, nhiều doanh nghiệp Việt Nam sẽ mang tới hội chợ những sản phẩm mục tiêu đẩy mạnh thâm nhập thị trường Trung Quốc như gạo, sữa và các sản phẩm từ sữa, bánh kẹo, cà phê...

Tiếp nối thành công từ các năm trước, Cục Xúc tiến thương mại phối hợp với Ban thư ký Hội chợ CAEXPO và các đơn vị liên quan sẽ tổ chức “Hội nghị giao thương tổng hợp mua bán hàng hóa giữa doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp Trung Quốc” trong thời gian diễn ra Hội chợ CAEXPO 2018. Dự kiến, trên 400 đại biểu là đại diện doanh nghiệp hai nước sẽ trực tiếp trao đổi các cơ hội hợp tác kinh doanh và đầu tư ngay tại hội nghị.

Nguồn: “www.chinhphu.vn”

 

Việt Nam, Australia chia sẻ vấn đề thúc đẩy, bảo đảm quyền con người

Email In PDF

Ngày 28/8, tại Hà Nội, đã diễn ra vòng 15 đối thoại nhân quyền thường niên giữa Việt Nam và Australia. Cuộc đối thoại được tiến hành trên tinh thần thẳng thắn, xây dựng, tôn trọng lẫn nhau.

Hai bên đánh giá cao những bước phát triển tốt đẹp của quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam – Australia, chia sẻ thông tin về nỗ lực, thành tựu cũng như thách thức và khó khăn của mỗi nước trong việc thúc đẩy và bảo đảm quyền con người; trao đổi về những lĩnh vực quyền con người cùng quan tâm, đặc biệt tập trung vào các nội dung về nhà nước pháp quyền và cải cách pháp luật, việc bảo đảm các quyền tự do cơ bản và bảo vệ quyền của các nhóm dễ bị tổn thương. Hai bên cũng trao đổi các khả năng và biện pháp tăng cường hợp tác trong khuôn khổ song phương và tại các diễn đàn đa phương trong lĩnh vực này.

Đoàn Việt Nam cũng nêu một số quan tâm về những thách thức trong bảo đảm quyền con người ở Australia như quyền của người thổ dân, trẻ em, việc bảo đảm cân bằng giữa yêu cầu về an ninh và các hoạt động chống khủng bố…

Về những khác biệt trong lĩnh vực quyền con người, hai bên khẳng định tiếp tục thảo luận, trao đổi về các vấn đề cùng quan tâm nhằm thu hẹp các khác biệt, tăng cường hiểu biết và làm sâu sắc hơn quan hệ đối tác chiến lược giữa Việt Nam và Australia./.

Nguồn: “www.chinhphu.vn”

 

Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam – Ai Cập

Email In PDF

Nhân chuyến tháp tùng Chủ tịch nước Trần Đại Quang sang thăm chính thức Ai Cập, chiều ngày 27/8/2018, Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng cùng Bà Sahar Nasr Bộ trưởng Bộ Bộ trưởng Đầu tư và Hợp tác quốc tế Ai Cập đã đồng chủ trì Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam – Ai Cập tại thủ đô Cairo của Ai Cập.

Tham dự Diễn đàn có đại diện của khoảng 200 doanh nghiệp và đại diện các Bộ, ngành, Hiệp hội doanh nghiệp hai nước. Đặc biệt, về phía Ai Cập có sự tham dự của các Bộ trưởng Kế hoạch, Du lịch, Nông nghiệp, Y tế, Công nghệ thông tin và truyền thông, Nhà ở và Cộng đồng cùng Chủ tịch Đặc khu kinh tế kênh đào Suez.

Phát biểu tại Hội nghị, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh đã giới thiệu tình hình phát triển kinh tế của Việt Nam trong thời gian qua, giới thiệu những thành tựu cơ bản trong các ngành công nghiệp mũi nhọn cũng như rà soát quan hệ thương mại và hợp tác công nghiệp giữa Việt Nam và Ai Cập trong thời gian qua. Bộ trưởng cho biết quan hệ thương mại giữa hai nước đã và đang có những bước phát triển tốt đẹp và là điểm sáng trong quan hệ song phương trong những năm gần đây. Ai Cập hiện là thị trường lớn thứ hai của Việt Nam tại châu Phi với kim ngạch thương mại hai chiều năm 2017 đạt 342 triệu USD tăng 8,6% so với năm 2016. Trong đó, Việt Nam xuất khẩu 321 triệu USD và nhập khẩu khoảng 21 triệu USD từ Ai Cập.

Bộ trưởng cho rằng, nhiều lĩnh vực, nhiều mặt hàng mà hai nước vẫn còn dư địa để phát triển hợp tác gồm có dệt may, da giầy, nông, lâm, thủy hải sản, máy móc, thiết bị phụ tùng..v..v.. Với quy mô thị trường lớn, cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu có tính bổ sung cho nhau, hai Bên vẫn còn nhiều triển vọng trao đổi thương mại và cần nỗ lực hơn nữa để thúc đẩy kim ngạch hai chiều sớm đạt mục tiêu kim ngạch thương mại song phương 1 tỷ USD.

Bộ trưởng Trần Tuấn Anh cũng cho biết thêm, dưới sự chứng kiến của Chủ tịch nước Trần Đại Quang và tổng thống Ai Cập, đã có 04 Bản ghi nhớ hợp tác chuyên ngành được ký giữa Bộ Công Thương Việt Nam với các Bộ, ngành liên quan của Ai Cập, gồm có Bản ghi nhớ về thương mại gạo, Bản ghi nhớ về hợp tác trong lĩnh vực dầu khí, Bản ghi nhớ về hợp tác trong lĩnh vực phòng vệ thương mại và Bản ghi nhớ về hợp tác trong lĩnh vực xúc tiến thương mại. Đây là khung pháp lý cũng như các nguyên tắc căn bản để thúc đẩy hơn nữa hợp tác thương mại, công nghiệp song phương trong thời gian tới.

Trong khuôn khổ diễn đàn, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh đã trả lời nhiều câu hỏi của các doanh nghiệp Ai Cập liên quan đến thương mại đối với các mặt hàng dược phẩm, thủy sản, gạo, sợi, dầu khí, các sản phẩm hóa chất, dệt may, da giày, nông sản...

Nguồn: “Báo Công Thương Điện Tử

 

Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam- Ethiopia

Email In PDF

Nhân chuyến tháp tùng Chủ tịch nước Trần Đại Quang sang thăm chính thức Ethiopia, chiều ngày 24/8/2018, Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng cùng Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Ethiopia đã đồng chủ trì Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam – Ethiopia 2018.

Tham dự Diễn đàn có đại diện của khoảng 300 doanh nghiệp cùng đại diện các Bộ, ngành, Hiệp hội doanh nghiệp hai nước. Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng và Bộ trưởng Ngoại giao Ethiopia đã có bài phát biểu giới thiệu các cơ hội đầu tư và kinh doanh tại hai nước cũng như các chính sách liên quan đến khuyến khích và thu hút đầu tư nước ngoài.

Phát biểu tại Hội nghị, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh cho biết mức kim ngạch thương mại song phương hiện nay còn quá nhỏ bé so với tiềm năng và thế mạnh hai nước. Năm 2017, Việt Nam mới chỉ xuất khẩu khoảng 2 triệu USD sang Ethiopia, chưa chiếm đến 0,001% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Việt Nam nhập khẩu khoảng 10 triệu USD từ Ethiopia, chưa chiếm đến 0,005% kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam. Vẫn có nhiều dư địa để thúc đấy thương mại và hợp tác công nghiệp song phương.

Bộ trưởng Trần Tuấn Anh cũng cho biết tại cuộc gặp với Bộ trưởng Bộ Thương mại Ethiopia trước đó, hai bên đã thống nhất sẽ ký Bản ghi nhớ về hợp tác thương mại và công nghiệp giữa hai Bộ nhằm tạo khuôn khổ pháp lý và nguyên tắc cơ bản cho việc thúc đẩy thương mại và hợp tác công nghiệp song phương. Hai bên cũng đã trao đổi khả năng hợp tác trong từng lĩnh vực cụ thể. Về đầu tư trong công nghiệp, Ethiopia là thị trường tiềm năng cho các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư trong các lĩnh vực chế biến nông sản thực phẩm, chăn nuôi, trồng trọt, thuộc da, dệt may, da giày, năng lượng, thủy điện, dầu khí và xây dựng cơ sở hạ tầng.

Bên cạnh đó, xét trên nhu cầu thị trường và thế mạnh sản xuất của mỗi nước, Việt Nam có thể xuất khẩu sang Ethiopia các sản phẩm như máy móc nông nghiệp, phương tiện vận tải, phân bón, vật liệu xây dựng, hàng tiêu dùng, hàng điện tử - điện lạnh, máy vi tính, điện thoại di động, máy móc thiết bị, sản phẩm viễn thông. Về nhập khẩu, Việt Nam có nhu cầu nhập khẩu từ Ethiopia các mặt hàng nguyên liệu thức ăn gia súc, nguyên liệu cho ngành dệt may, da giày và thậm chí các sản phẩm nông sản như cà phê để phục vụ cho sản xuất trong nước và xuất khẩu.

Tại Diễn đàn, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã bày tỏ sự quan tâm tới hợp tác với Ethiopia, chẳng hạn như Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Tập đoàn Hóa chất (Vinachem), Tổng công ty máy động lực và máy nông nghiệp (VEAM), Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN), Tổng Công ty Thuốc lá Việt Nam (Vinataba)…

Trong khuôn khổ Phiên Hỏi&Đáp, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh đã trả lời các câu hỏi của doanh nghiệp Ethiopia liên quan đến thương mại hàng nông sản và đầu tư trong lĩnh vực trồng trọt tại Việt Nam.

Nguồn: “Báo công thương điện tử

 

Thuế nhôm thép của Hoa Kỳ và câu chuyện của Việt Nam

Email In PDF

Ngày 08/3/2018, Hoa Kỳ đã áp đặt mức thuế 25% đối với hàng nhập khẩu thép và 10% đối với nhôm nhập khẩu theo Mục 232 của Đạo luật Mở rộng thương mại năm 1962 vì lý do an ninh quốc gia.

Trong một động thái tương tự vào tháng 12/2017, Bộ Thương mại Hoa Kỳ đã tăng thuế nhập khẩu đối với sản phẩm thép từ Việt Nam có xuất xứ từ Trung Quốc khi tránh các quy tắc chống bán phá giá và chống trợ cấp. Việc tăng thuế sẽ tác động đến ngành thép ở Việt Nam nhưng các công ty thép ở Việt Nam tin rằng thuế quan sẽ không có ảnh hưởng lớn đến tổng thể nền kinh tế. Việt Nam không phải là thị trường chính cho nhập khẩu thép nhôm của Mỹ và chỉ là thị trường xuất khẩu thép thứ 12 vào Hoa Kỳ.

Ngày 21/5/2018, Bộ Thương mại Hoa Kỳ đã đưa ra thuế nhập khẩu đối với sản phẩm thép Việt Nam có xuất xứ Trung Quốc. Nhập khẩu thép cán nguội từ Việt Nam tăng từ 9 triệu USD lên 215 triệu USD hàng năm, trong khi nhập khẩu thép chống ăn mòn tăng từ 2 triệu USD lên 80 triệu USD kể từ năm 2015, khi Mỹ áp đặt thuế chống bán phá giá đối với Trung Quốc. Thép chống ăn mòn (CORE) từ Việt Nam có xuất xứ Trung Quốc, sẽ phải đối mặt với thuế chống bán phá giá là 199,43% và thuế đối kháng là 39,05%. Nhập khẩu thép cán nguội sẽ đối mặt với mức thuế chống bán phá giá 199,76% và thuế đối kháng là 256,44%. Tuy nhiên, các nhà xuất khẩu và các nhà nhập khẩu có thể xin miễn trừ nếu họ có thể xác nhận rằng các sản phẩm của họ được sản xuất từ chất ban đầu có nguồn gốc ở Việt Nam hoặc bất kỳ quốc gia nào khác, ngoài Trung Quốc.

Việc tăng thuế quan sẽ ảnh hưởng đến các nhà sản xuất trong nước, nhưng tác động đến tổng thể nền kinh tế là tối thiểu. Trong năm 2017, Hoa Kỳ chiếm 11,1% xuất khẩu thép của VIệt Nam, tức là chưa đến 2% tổng xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, thuế quan tăng sẽ gia tăng cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt trên thị trường nội địa. Nguồn cung tổng thể cũng có thể tăng ở Đông Nam Á dẫn đến sự sụt giảm về giá, mà có thể mang lại lợi ích cho người tiêu dùng cuối cùng. Với các mức thuế mới, nhà xuất khẩu Việt Nam nên áp dụng các biện pháp nhất định để tránh bị phạt không cần thiết. Thứ nhất, bảo đảm phân loại HS chính xác, theo đó, nhà xuất khẩu nên xác định rõ ràng mã phân loại HS mà một sản phẩm có ở Hoa Kỳ, vì hải quan Mỹ đôi khi đặt câu hỏi về các chi tiết kỹ thuật và quy trình sản xuất để bảo đảm rằng mã HS chính xác được áp dụng. Thứ hai, khi khai báo trị giá hải quan, các doanh nghiệp cần kiểm tra kỹ các hợp đồng, đơn đặt hàng và hóa đơn để bảo đảm rằng trị giá hải quan được khai báo là chính xác để tránh các mức phạt hải quan. Thứ ba, tránh trung chuyển, vào tháng 12/2017, chính phủ Hoa Kỳ đã tăng thuế nhập khẩu đối với sản phẩm thép từ Việt Nam có xuất xứ từ Trung Quốc vì họ muốn tránh quy tắc chống bán phá giá và chống trợ cấp. Các doanh nghiệp Việt Nam nên có các biện pháp để tránh những vấn đề như vậy khi Mỹ đã áp dụng hình phạt và tiền phạt cho các hành động đó.

Bức tranh ngành thép của Việt Nam đã chứng kiến sự tăng trưởng nhanh chóng trong vài năm qua, tăng 21,64% từ năm 2013 đến năm 2016. Trong năm 2017, sản lượng thép đã tăng 23,5% trong khi tiêu thụ thép tăng 25,7%. Sự gia tăng sản xuất được thúc đẩy bởi tăng xuất khẩu sang các nước ASEAN và tiêu dùng trong nước. Trong năm 2017, có hơn 22 triệu tấn thép được sản xuất và sản lượng tiêu thụ đạt gần 19 triệu tấn. Doanh thu xuất khẩu thép đã đạt 3,64 tỷ USD, tăng 45,4% so với năm 2016, trong khi nhập khẩu đạt 20 triệu tấn, trị giá 10,5 tỷ USD, giảm 14,2% về lượng nhưng tăng 13,2% về giá trị. Năm 2017, ASEAN chiếm phần lớn kim ngạch xuất khẩu thép của Việt Nam ở mức 59,3%. Hoa Kỳ đứng thứ hai với 11,1% sau đó là EU, Hàn Quốc, Ấn Độ, Đài Loan, và Australia với 9%, 5,8%, 3,4%, 2,25% và 1,88%.

Theo Hiệp hội thép Việt Nam (VSA), ngành thép được dự báo sẽ tăng 20 đến 22% trong năm 2018 và trong thập kỷ tới, tốc độ tăng trưởng sẽ từ 15 đến 18%. Đặc biệt trong năm 2018, tăng trưởng mạnh nhất sẽ diễn ra với thép cán nóng ở mức 154%, tiếp theo là ống thép hàn, thép mạ kẽm, thép xây dựng và thép cán nguội với tốc độ lần lượt là 15%, 12%, 10% và 5%. Nhu cầu trong nước sẽ tiếp tục tăng trong năm 2018 với 20-22%, có thể giúp cân bằng nhu cầu bị giảm từ thị trường xuất khẩu, đặc biệt Hoa Kỳ. Tuy nhiên, các doanh nghiệp trong nước phải giảm chi phí sản xuất và gia tăng chất lượng sản phẩm nếu muốn phục vụ thị trường nội địa, vì các doanh nghiệp trong nước chỉ chiếm khoảng một nửa tổng nhu cầu nội địa.

Trong quan hệ thương mại với Việt Nam về thép, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu thép lớn thứ hai của Việt Nam (sau ASEAN), chiếm 11,1% trong tổng xuất khẩu thép năm 2017. Tuy nhiên, nhập khẩu thép từ Việt Nam chỉ chiếm khoảng 5% tổng nhập khẩu của Hoa Kỳ. Dựa vào tỷ trọng nhỏ trong tổng nhập khẩu, chính phủ đã nhấn mạnh rằng các sản phẩm thép và nhôm được sử dụng xây dựng dân dụng, không phải cho mục đích cơ sở hạ tầng hay an ninh do đó không gây nguy cơ cho an ninh quốc gia, lý do mà Mỹ tuyên bố để tăng thuế. Ba mặt hàng xuất khẩu hàng đầu từ Việt Nam sang Hoa Kỳ là thép cuộn cán nguội (CRC), cuộn mạ kẽm nhúng nóng (HDG) và các cuộn dây kim loại khác. Xuất khẩu CRC đã tăng từ 33.199 tấn năm 2015 lên 155.169 tấn năm 2017, trong khi sản lượng của HDG tăng từ 292 tấn năm 2014 lên 124.799 tấn năm 2017. Các loại thép dẹt khác tăng từ 181 tấn năm 2013 lên 130.440 tấn năm 2017.

Với việc tăng thuế nhập khẩu nhôm thép của Hoa Kỳ, các doanh nghiệp Việt Nam cần đa dạng hóa xuất khẩu gồm cả thị trường và danh mục sản phẩm để giảm thiểu thiệt hại. Gần 60% xuất khẩu thép của Việt Nam đi vào thị trường ASEAN; vì vậy, thuế quan của Mỹ sẽ không có tác động lớn đối với tổng thể ngành. Tuy nhiên, các doanh nghiệp trong nước phải đầu tư vào công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm và giảm chi phí sản xuất nếu muốn tiếp cận thị trường mới hoặc hỗ trợ các ngành công nghiệp trong nước. Các thị trường xuất khẩu chính của thép Việt Nam là ASEAN, Hoa Kỳ, EU, Hàn Quốc, Ấn Độ, Đài Loan, và Australia. Với thuế suất của Mỹ đặt ra, các doanh nghiệp có cơ hội tập trung vào các thị trường khác để bù đắp việc giảm xuất khẩu ở thị trường Mỹ. Với nhiều FTA đã có hiệu lực, và các FTA mới như FTA Việt Nam- EU, hiệp định CPTPP hiện đang chờ phê chuẩn, Việt Nam sẽ tăng cường tiếp cận thị trường mới. Theo Hiệp hội thép thế giới, nhu cầu thép sẽ tiếp tục tăng trưởng toàn cầu trong năm 2018, và các doanh nghiệp Việt Nam nên tập trung vào các thị trường mới khi tất cả các FTA có hiệu lực. Cụ thể tăng trưởng trong nhu cầu thép trên thế giới: EU (1,4%), các nước Châu Âu khác (5,2%), NAFTA (1,2%), CIS (3,8%), Trung và Nam Mỹ (4,7%), Châu Phi (3,3%), Trung Đông (4,8%), Châu Á (1,2%), ASEAN (6,8%).

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp Việt Nam có thể tập trung hơn vào thị trường nội địa, tiêu thụ thép trong nước đã tăng 25,7% từ năm 2013 đến 2016, khiến Việt Nam trở thành nước tiêu thụ lớn nhất trong số các nước ASEAN. Năm 2018, nhu cầu trong nước được dự đoán sẽ tăng từ 20 đến 22% lên 27 triệu tấn, cao nhất trong khu vực và trong tốp 10 toàn cầu. Tuy nhiên, các doanh nghiệp trong nước chỉ đáp ứng được 40% nhu cầu trong nước, dẫn đến thâm hụt thương mại rất lớn. Do sự gia tăng đô thị hóa, tăng trưởng cơ sở hạ tầng và đầu tư, nguồn cung này có thể tập trung vào thị trường chưa được khai thác cho các công ty trong nước. Các công ty Việt Nam như Pomina, Tập đoàn Hoa Sen và thép Hòa Phát đã chú ý đến nhu cầu rất lớn này và gia tăng đầu tư trong nước.

Theo Viện Nghiên cứu POSCO, ngành xây dựng của Việt Nam đã tăng trưởng 8% và chiếm 33,3% GDP năm 2017, sẽ tiếp tục thúc đẩy nhu cầu về thép. Ngành xây dựng đã chiếm tới 93% tổng nhu cầu thép ở Việt Nam và đạt mức tăng trưởng chi tiêu 8,5% (CAGR). Ngành xây dựng được dự báo sẽ tăng 7% hàng năm trong thập kỷ tới, mang lại cơ hội lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các sản phẩm như thép kết cấu được dự đoán chiếm 80% tổng nhu cầu thép, đạt 24 triệu tấn vào năm 2020.

Nguồn: “Báo công thương điện tử”

 
Trang 1 / 12

Hỗ trợ tư vấn

Điện thoại:
Fax:
 
(+84-24)3.557.9668
 
(+84-24)3.557.9598
Email tư vấn: info@luatsutuvan.com.vn
icon_email

Tin tức

Joomla Templates and Joomla Extensions by JoomlaVision.Com

Tổ chức liên kết

cong-chung
daugia
KK22

Liên kết website

bg_trai3