en vi

Thứ tư, 17/01/2018
Công ty Luật TNHH  Đào và Đồng nghiệp | Địa chỉ: Số 369, Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội | Điện thoại : (+84-24)3.557.9568*  Fax: (+84-24)3.557.9598 * Hotline: 0945.490.123

Nỗ lực để EU rút lại ‘thẻ vàng’ thủy sản

Email In PDF

Chỉ còn vài tháng nữa để Việt Nam nỗ lực trong việc làm cho EU rút lại “thẻ vàng” cảnh báo việc đánh bắt cá bất hợp pháp, không quản lý và không khai báo đối với thủy hải sản xuất khẩu của Việt Nam sang EU (IUU). Chính từ sự thúc bách này, ngư dân và cơ quan chức năng nhiều địa phương đã ráo riết khắc phục khuyến cáo của EU.

Theo cảnh báo của Liên minh châu Âu (EU), trong khoảng thời gian từ tháng 10/2017 đến tháng 4/2018, nếu Việt Nam không khắc phục được những thiếu sót, tồn tại theo khuyến nghị của EU thì Liên minh này sẽ rút “thẻ đỏ” với thủy sản Việt Nam, đồng nghĩa việc các mặt hàng thủy sản của Việt Nam bị cấm xuất khẩu sang EU.

Chính từ sự thúc bách này, ngư dân và cơ quan chức năng nhiều địa phương đã ráo riết tuân thủ khắc phục khuyến cáo của EU.

Nhiều chủ tàu cá của Đà Nẵng khi trao đổi với báo chí cho biết trong thời gian qua, họ cập nhật thông tin, tình hình về khắc phục “thẻ vàng” và không khai thác hải sản bất hợp pháp, nhất là khai thác ở vùng biển thuộc chủ quyền của nước ngoài.

Thực hiện Chỉ thị số 45/CT-TTg ngày 13/12/2017 của Thủ tướng Chính phủ về một số nhiệm vụ, giải pháp cấp bách để khắc phục cảnh báo của EU về IUU, trong thời gian qua, các đơn vị liên quan ở Đà Nẵng phối hợp với chính quyền các địa phương tuyên truyền các quy định đến chủ tàu cá.
Bộ đội Biên phòng Thành phố đã nhắc nhở, hướng dẫn ngư dân chấp hành các quy định của pháp luật trên biển, nâng cao ý thức bảo vệ chủ quyền vùng biển và không xâm phạm vùng biển của các nước…

Sở NN&PTNT đã tuyên truyền, quán triệt các chủ tàu cá khai thác trên biển không khai thác thủy sản mà không có giấy phép khai thác thủy sản, hoặc khai thác không đúng nội dung quy định trong giấy phép khai thác thủy sản; không ghi, nộp nhật ký hoặc báo cáo khai thác thủy sản theo quy định; khai thác trong vùng cấm khai thác trong thời gian cấm khai thác; khai thác, vận chuyển hoặc đưa lên tàu các loài thủy sản cấm khai thác; sử dụng loại nghề, ngư cụ khai thác bị cấm hoặc không đúng quy định; khai thác trong vùng biển thuộc quyền quản lý của tổ chức quản lý nghề cá khu vực và quốc gia khác mà không có giấy phép khai thác hợp lệ…

Đối với các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu thủy sản, Sở NN&PTNT yêu cầu lập hồ sơ đề nghị chứng nhận thủy sản khai thác, xác nhận nguyên liệu thủy sản khai thác theo đúng quy định; đồng thời, không thu mua các sản phẩm thủy sản khai thác có nguồn gốc từ các tàu cá có hoạt động khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định.
Bên cạnh đó, Chi cục Thủy sản Thành phố không xác nhận khi lô hàng có nội dung không đúng với kê khai trong giấy xác nhận nguyên liệu thủy sản khai thác hoặc sử dụng nguyên liệu từ tàu cá khai thác bất hợp pháp; không chứng nhận khi lô hàng có nội dung không đúng với kê khai trong hồ sơ hoặc sử dụng nguyên liệu từ tàu cá khai thác bất hợp pháp.

Tại Bình Thuận, hiện tỉnh có khoảng 1.575 tàu cá đủ điều kiện hoạt động trên các vùng biển xa. Tuy nhiên, ý thức của ngư dân còn hạn chế trong việc chấp hành các quy định của pháp luật nước ta và tôn trọng chủ quyền vùng biển của các nước tiếp giáp…

Để ngăn chặn cũng như chấm dứt tình trạng tàu cá và ngư dân Việt Nam khai thác trái phép ở vùng biển nước ngoài, tỉnh Bình Thuận đang ra sức thực hiện các biện pháp ngăn chặn, xử lý đối với các đối tượng vi phạm một cách quyết liệt.

Chi cục Thuỷ sản Bình Thuận đã phối hợp với các đồn biên phòng và UBND các huyện tổ chức tuyên truyền ở các địa bàn có tàu thuyền vi phạm để giúp ngư dân hiểu rõ quy định pháp lý và thiệt hại mà chủ tàu gánh chịu nếu vi phạm.

Ngoài ra, cơ quan chức năng tăng cường kiểm tra, kiểm soát tàu cá hoạt động từ khi xuất bến ra ngư trường khai thác hải sản đến khi nhập bến, chú trọng tàu cá có công suất lớn, khai thác hải sản xa bờ. Thu hồi giấy phép khai thác thuỷ sản, chứng chỉ thuyền, máy trưởng và tạm dừng chuyển quyền sở hữu trong vòng 6 tháng đối với tàu cá bị nước ngoài bắt giữ thả về. Không cấp giấy phép khai thác thuỷ sản vĩnh viễn, không cho đăng ký mới đối với chủ tàu cá đã từng vi phạm vùng biển nước ngoài bị nước ngoài bắt giữ, xử lý hoặc không giải quyết hỗ trợ theo Quyết định 48 của Thủ tướng Chính phủ; không cho chủ tàu cá vi phạm vùng biển nước ngoài đăng ký hoặc đưa ra khỏi danh sách đăng ký đóng mới.

Trong một diễn biến liên quan, vào tối 14/1, tại lễ mừng xuất khẩu thủy sản Việt Nam hoàn thành kế hoạch 8 tỷ USD năm 2017 tổ chức ở TPHCM, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) đã công bố "Sách Trắng về chống khai thác thủy sản bất hợp pháp ở Việt Nam".

Đây là cuốn sách tập hợp các thông tin cơ bản về khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định.
Cuốn sách gồm 5 chương, được biên soạn bằng tiếng Việt và tiếng Anh, trong đó, giới thiệu chi tiết từ tổng quan ngành thủy sản Việt Nam, những quy định và thực tế áp dụng, bối cảnh thẻ vàng với Việt Nam và những nỗ lực khắc phục; kế hoạch hành động dài hạn chống khai thác IUU của Chính phủ Việt Nam và các khuyến nghị đối với các bên liên quan trong chuỗi giá trị hải sản.

Theo TTXVN, trong Sách Trắng, VASEP dành riêng một chương thể hiện rõ quan điểm và thông điệp của VASEP và cộng đồng doanh nghiệp hải sản Việt Nam kiên quyết nói không với thủy sản khai thác IUU.

VASEP và các doanh nghiệp sẵn sàng hỗ trợ và quyết tâm chung tay với Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và các bên liên quan thực hiện hành động quốc gia dài hạn chống khai thác IUU.

Thông qua cuốn sách này, hy vọng Ủy ban châu Âu (EC) sẽ nắm bắt đầy đủ thông tin, tin tưởng và ghi nhận những nỗ lực cải thiện của Việt Nam, cùng với đánh giá thực tế hy vọng EC sẽ sớm rút lại “thẻ vàng” cho Việt Nam.

Nguồn: "chinhphu.vn"

 

Khuyến cáo doanh nghiệp chủ động phòng vệ thương mại

Email In PDF

Nhận định Hoa Kỳ đang tập trung nguồn lực vào việc nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật thương mại, Cục Phòng vệ thương mại (Bộ Công Thương) vừa đưa ra một số thông tin liên quan tới phòng vệ thương mại tại Hoa Kỳ cũng như một số khuyến cáo với các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu.

Theo đó, Hoa Kỳ là một trong những nước đầu tiên trên thế giới áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại (PVTM) từ năm 1906. Đến năm 1930, Đạo luật Thuế quan của Hoa Kỳ đã có các quy định tương đối chi tiết về vấn đề này. Hoa Kỳ cũng là nước có ảnh hưởng đáng kể trong việc đưa vào Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT 1947 các quy định về PVTM như là công cụ “rào cản nhập khẩu” hợp pháp.

Pháp luật về điều tra chống bán phá giá (AD) và chống trợ cấp (CVD) của Hoa Kỳ là một phần quan trọng của pháp luật về PVTM Hoa Kỳ nói riêng cũng như pháp luật về thương mại Hoa Kỳ nói chung. Mục tiêu chủ yếu của các biện pháp PVTM của Hoa Kỳ là để xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh của các nhà xuất khẩu nước ngoài trên thị trường Hoa Kỳ nhằm bảo vệ các nhà sản xuất trong nước.

Tuy nhiên, việc điều tra, áp dụng các biện pháp PVTM của Hoa Kỳ phải tuân thủ các nguyên tắc bắt buộc về nội dung yêu cầu và thủ tục quy định tại các Hiệp định liên quan của WTO (cụ thể là Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT 1994), Hiệp định về chống bán phá giá, Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng, Hiệp định về biện pháp tự vệ).
Theo quy định của Hoa Kỳ, cơ quan có thẩm quyền điều tra và áp dụng biện pháp PVTM bao gồm: Các cơ quan có thẩm quyền trực tiếp trong điều tra và áp dụng biện pháp PVTM (Bộ Thương mại Hoa Kỳ và Ủy ban Thương mại quốc tế Hoa Kỳ); các cơ quan có thẩm quyền liên quan đến quá trình điều tra và áp dụng biện pháp phòng vệ (Hải quan Hoa Kỳ, Tòa án Thương mại quốc tế Hoa Kỳ CIT, Văn phòng đại diện Thương mại Hoa Kỳ USTR).

Cơ quan có thẩm quyền khởi xướng điều tra áp dụng biện pháp PVTM là Bộ Thương mại Hoa Kỳ. Pháp luật PVTM Hoa Kỳ quy định hai phương thức khởi xướng điều tra vụ việc chống bán phá giá (AD) và chống trợ cấp (CVD) gồm vụ việc được khởi xướng khi một bên liên quan đại diện cho ngành sản xuất trong nước nộp đơn kiện lên cơ quan điều tra cáo buộc rằng hàng hóa nhập khẩu vào Hoa Kỳ được trợ cấp và bị bán phá giá gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất nội địa. Bên cạnh đó, Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) có thể tự khởi xướng điều tra AD và CVD khi từ những thông tin có sẵn xác định sự cần thiết phải tiến hành điều tra.
Mặc dù việc DOC có thẩm quyền tự khởi xướng điều tra vụ việc PVTM nhưng điều này hiếm khi xảy ra. Tính đến tháng 11/2017, Hoa Kỳ mới chỉ có 2 vụ việc được tự khởi xướng điều tra.

Tuy nhiên, điều này đã thay đổi khi ngày 28/11/2017, DOC thông báo tự khởi xướng điều tra AD và CVD lần đầu tiên trong lịch sử đối với tấm nhôm hợp kim thông thường (common alloy aluminum sheet) nhập khẩu từ Trung Quốc.

Trình tự và thủ tục tiến hành điều tra của một vụ việc điều tra AD và CVD theo đơn kiện của ngành sản xuất trong nước hay tự khởi xướng điều tra là như nhau.Việc DOC tự khởi xướng cuộc điều tra AD/CVD sau 26 năm thể hiện chính quyền mới của Hoa Kỳ đang quyết liệt đấu tranh chống lại các hành vi thương mại không công bằng, bảo vệ ngành sản xuất trong nước. Theo các chuyên gia, công cụ tự khởi xướng được xem là một công cụ hữu ích, đặc biệt trong bối cảnh các ngành sản xuất trong nước có nhiều doanh nghiệp và gặp khó khăn trong việc khớp dữ liệu, chia sẻ chi phí. Thêm vào đó, công cụ này giúp tiết kiệm thời gian chuẩn bị để khởi xướng một vụ việc và rút ngắn thời gian tiến hành khởi xướng để hỗ trợ doanh nghiệp đang phải chịu thiệt hại bởi sự cạnh tranh không công bằng của hàng hóa nhập khẩu.

Mặc dù vụ việc mới khởi xướng chỉ liên quan tới hàng hóa nhập khẩu của Trung Quốc, các nước đều có thể nhận thấy rằng chính quyền Hoa Kỳ đang tập trung nguồn lực vào việc nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật thương mại Hoa Kỳ.

Hơn nữa, căn cứ vào cam kết của Bộ trưởng Thương mại Wilbur Ross khi nhậm chức rằng Bộ Thương mại sẽ “dốc sức” giải quyết vấn đề dư thừa công suất của ngành thép và nhôm toàn cầu và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về chống bán phá giá và chống trợ cấp Hoa Kỳ, có thể nhận định rằng vụ việc khởi xướng kép lần này có thể là sự khởi đầu, báo hiệu cho nhiều vụ việc tương tự sẽ xảy ra tiếp theo mà không chỉ nhắm vào Trung Quốc mà còn bất cứ nước nào khác.

Trên thực tế, trong năm 2017, Hoa Kỳ đã khởi xướng điều tra 79 vụ việc AD và CVD, tăng 65% so với năm 2016. Đối với Việt Nam, chỉ trong năm 2017, Hoa Kỳ đã khởi xướng 2 vụ việc chống bán phá giá (với sợi và tủ đựng dụng cụ) và 2 vụ việc tự vệ có liên quan đến hàng xuất khẩu của Việt Nam (đối với máy giặt và pin năng lượng mặt trời).

Nhằm giảm thiểu nguy cơ, tác động của biện pháp PVTM tới hoạt động sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, các doanh nghiệp trong nước, các hiệp hội cần chú trọng hơn nữa đến công tác PVTM, chủ động phòng tránh và có biện pháp để hạn chế khả năng Hoa Kỳ nói riêng và các nước khác nói chung điều tra áp dụng biện pháp PVTM như đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, chú trọng cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm.

Nguồn: "www.chinhphu.vn" 

 

Việt Nam khiếu nại biện pháp chống bán phá giá cá tra, basa lên WTO

Email In PDF

Việt Nam vừa khiếu nại biện pháp chống bán phá giá mà Hoa Kỳ áp dụng đối với cá tra, basa nhập khẩu từ Việt Nam lên Cơ quan giải quyết tranh chấp của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).

Cụ thể, ngày 13/1, Cục Phòng vệ thương mại (Bộ Công Thương) cho biết, vào ngày 8/1 vừa qua, Việt Nam đã chính thức gửi yêu cầu tới Hoa Kỳ để đề nghị tham vấn trong khuôn khổ Cơ chế giải quyết tranh chấp WTO liên quan tới biện pháp chống bán phá giá mà Hoa Kỳ áp dụng đối với cá tra, basa nhập khẩu từ Việt Nam. Việc tham vấn là bước đầu tiên, bắt buộc trong quy trình, thủ tục giải quyết tranh chấp theo quy định của WTO.

Nội dung tham vấn của Việt Nam với Hoa Kỳ tập trung vào các vấn đề chính sau:

Việt Nam khiếu kiện phương pháp quy về không (“zeroing”) mà Hoa Kỳ sử dụng để tính biên độ phá giá cho doanh nghiệp Việt Nam (trong đợt rà soát 5, 6 và 7) vi phạm ở 2 khía cạnh, về mặt pháp lý và về mặt áp dụng quy định của Hiệp định Chống bán phá giá của WTO (ADA).

Tiếp đó, Việt Nam khiếu nại Hoa Kỳ vi phạm quy định của Hiệp định ADA do không thực hiện việc dỡ bỏ lệnh áp thuế chống bán phá giá cho một số doanh nghiệp Việt Nam mặc dù các doanh nghiệp này đáp ứng tiêu chí được dỡ bỏ thuế do có biên độ phá giá bằng 0 trong 3 lần liên tiếp.

Các khiếu nại này tương tự như khiếu nại của Việt Nam đối với lệnh áp thuế chống bán phá giá tôm của Hoa Kỳ trong vụ việc DS429, với phán quyết cuối cùng của DSB theo hướng có lợi cho Việt Nam.

Theo quy định về thủ tục giải quyết tranh chấp WTO, Hoa Kỳ phải phản hồi về việc chấp nhận tham vấn hoặc không trong vòng 10 ngày và hai bên phải tiến hành tham vấn trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu tham vấn.

Đây là vụ việc khiếu nại thứ 4 của Việt Nam lên cơ chế giải quyết tranh chấp WTO và là vụ việc khiếu nại thứ 3 của Việt Nam đối với Hoa Kỳ. Tất cả các vụ việc này đều liên quan đến biện pháp phòng vệ thương mại.

Nguồn: "www.chinhphu.vn"

 

Một số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang EAEU đã vượt ngưỡng

Email In PDF

Mặt hàng đồ lót và quần áo trẻ em của các DN Việt Nam xuất khẩu vào Liên minh Kinh tế Á - Âu (EAEU) trong 10 tháng của năm 2017 đã vượt ngưỡng giới hạn.

Theo Bộ Công Thương, từ ngày 14/12,  Ủy ban Liên minh kinh tế Á - Âu (Vụ Bảo vệ thị trường trong nước) có công hàm số 14-674 thông báo về việc số lượng một số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam đã vượt ngưỡng kim ngạch nhập khẩu cho năm 2017, được quy định theo Phụ lục 2 của Hiệp định Việt Nam-EAEU FTA.

Theo đó,  mặt hàng đồ lót (mã HS 6107, 6108, 6207, 6208, 6112) và quần áo trẻ em (mã HS 6111 20, 6111 30, 6111 90, 6209), được nhập khẩu từ tháng 1 tới tháng 10 vào lãnh thổ Liên minh Kinh tế Á-ÂuÂu đạt 173.330 kg và 112.732 kg, đã vượt ngưỡng cho năm 2017.

Theo cam kết trong Hiệp định Việt Nam-EAEU FTA, Liên minh Kinh tế Á-Âu có thể áp dụng biện pháp phòng vệ ngưỡng đối với các mặt hàng liên quan trong khoảng thời gian khoảng 6 tháng.

Vì vậy, Bộ Công Thương khuyến cáo doanh nghiệp xuất khẩu hàng dệt may sang Liên minh Kinh tế Á -Âu cần hết sức lưu ý, tránh việc xuất khẩu hàng hóa có các mã nêu trên vào lãnh thổ Liên minh sẽ bị trả về, doanh nghiệp phải trả chi phí gây thiệt hại.

Hiệp định thương mại tự do giữa một bên là Việt Nam và bên kia là Liên minh Kinh tế Á – Âu và các quốc gia thành viên có hiệu lực 5/10/2016.

Theo đánh giá, Hiệp định FTA giữa Việt Nam và Liên minh Kinh tế Á - Âu là Hiệp định thương mại tự do mang tính lịch sử, không chỉ vì Việt Nam là đối tác đầu tiên ký kết hiệp định này với Liên minh Kinh tế Á-Âu mà còn đem đến cơ hội vàng  xuất khẩu các mặt hàng thế mạnh của Việt Nam như nông sản, thủy sản, dệt may, da giày, đồ gỗ và một số sản phẩm chế biến.

Theo Hiệp hội Dệt may Việt Nam, khi Hiệp định có hiệu lực, kim ngạch hàng dệt may giữa hai bên sẽ tăng trưởng 50% ngay trong năm đầu tiên và tăng trung bình 20%/năm trong 5 năm tiếp theo. Giá trị kim ngạch tăng từ 700 triệu USD hiện nay lên 1 tỷ USD trong 1-2 năm tới và Việt Nam sẽ từ vị trí nhà cung cấp hàng dệt may thứ 8 tiến lên vị trí thứ 4 tại thị trường này.

Nguồn: "www.chinhphu.vn"

 

Doanh nghiệp Nhật Bản yên tâm đầu tư vào Việt Nam

Email In PDF

Ông Karashima Hiroshi, Chủ tịch Hiệp hội DN Nhật Bản tại Việt Nam (JBAV) khẳng định điều này với phóng viên Báo điện tử Chính phủ khi nói về những nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư của Chính phủ Việt Nam.

Trong số 115 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư ở Việt Nam, Nhật Bản đang là nhà đầu tư lớn nhất với số vốn lên tới 9,11 tỷ USD, chiếm 25,4% tổng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam năm 2017. Theo ông,  điều gì đã khiến các doanh nghiệp (DN) Nhật Bản rót nhiều vốn vào Việt Nam như vậy?

Ông Karashima Hiroshi: Chúng tôi rất vui mừng khi thấy Chính phủ Việt Nam dành nhiều sự quan tâm đến việc cải thiện môi trường kinh doanh và tạo thuận lợi cho các DN Nhật Bản đầu tư kinh doanh.

Việc tạo điều kiện ấy được thực hiện ngay từ những bước đầu cơ bản cho đến khi thực hiện các kế hoạch cụ thể. Đặc biệt, trong buổi làm việc của Hội đồng Tư vấn cải cách thủ tục hành chính của Việt Nam với các DN Nhật, đại diện nhiều DN của chúng tôi đã có cơ hội được bàn luận rất cởi mở và thẳng thắn với lãnh đạo các cơ quan chức năng của Việt Nam.

Ngoài ra, chúng tôi còn yên tâm vì có sự cam kết chắc chắn từ lời nói cho đến hành động của Chính phủ Việt Nam. Chúng tôi thấy rằng Chính phủ Việt Nam đang ngày càng nỗ lực điều chỉnh và hạn chế được nhiều bất cập.

Ví dụ như việc nhập khẩu các loại máy móc cũ vào thị trường Việt Nam. Ở lĩnh vực cụ thể này, Chính phủ Việt Nam đã lắng nghe ý kiến, đề xuất và hiểu được những khó khăn của DN. Từ đó tháo gỡ cho chúng tôi.

Chúng tôi hy vọng và mong muốn thông qua những cuộc gặp gỡ, trao đổi thông tin với đại diện lãnh đạo của Chính phủ và các cơ quan Nhà nước thời gian tới, những khó khăn của cộng đồng DN Nhật Bản sẽ được giải quyết.

Mới đây, Hiệp hội cũng như nhiều đại diện lãnh đạo DN Nhật Bản đã có buổi làm việc với Hội đồng Tư vấn cải cách thủ tục hành chính do ông Mai Tiến Dũng, Bộ trưởng, Chủ nhiệm VPCP làm Chủ tịch. Ông đánh giá như thế nào về hiệu quả của buổi làm việc này cũng như vai trò của Văn phòng Chính phủ trong việc góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, tháo gỡ khó khăn cho DN và việc phối hợp xử lý các vấn đề với các bộ ngành?

Ông Karashima Hiroshi: Tôi luôn mong đợi và an tâm vì ngài Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ rất quan tâm và khẳng định “Chính phủ Việt Nam luôn tạo điều kiện cho DN hoạt động và sẽ tiếp tục tháo gỡ những vướng mắc mà DN đang phải đối mặt”.

Trong cuộc họp với Hội đồng Tư vấn cải cách thủ tục hành chính có sự tham dự của các bộ, ngành, chúng tôi đã đề cập đến vấn đề bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với lao động nước ngoài tại Việt Nam. Hằng năm, các nhân viên người Nhật thường phải đóng từ 4.000-5.000 USD cho bảo hiểm. Việc đóng song trùng bảo hiểm xã hội không chỉ xảy ra ở Việt Nam mà còn là bất cập tại nhiều nước trên thế giới và được xem là vướng mắc chung của các DN nước ngoài. Tôi hiểu rằng để giải quyết được vướng mắc này thì cần một khoảng thời gian nhất định. Tuy nhiên, cơ quan chức năng liên quan của Việt Nam, cụ thể là Bộ LĐTB&XH đã xem xét ý kiến của chúng tôi và đưa ra đề xuất về việc điều chỉnh theo hướng thu hẹp lại phạm vi đối tượng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc. Chúng tôi rất hy vọng vào sự điều chỉnh này.

Thưa ông Hiroshi, trong năm mới 2018, các DN Nhật Bản kỳ vọng gì trong việc đầu tư kinh doanh tại Việt Nam. Với tư cách là Chủ tịch Hiệp hội DN Nhật Bản tại Việt Nam, ông có đề xuất, kiến nghị gì để việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh thêm hiệu quả?

Ông Karashima Hiroshi: Trong cảm nhận của cá nhân, tôi thấy năm 2018 thị trường Việt Nam sẽ có sự khởi sắc nhất định và các DN nước ngoài ở Việt nam có thể có tương lai xán lạn.

Ví dụ như qua điều tra của Ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC), Việt Nam trở thành thị trường số 1 trong khu vực châu Á mà các DN Nhật Bản nhắm tới. Các DN Nhật Bản đầu tư và hoạt động tại Việt Nam là thành viên của Hiệp hội chúng tôi đến nay đã lên đến con số 1.750 công ty (chỉ sau số công ty Nhật Bản hoạt động tại Thái Lan).

Điều này phần nào cho thấy hiệu quả kinh doanh của các DN Nhật tại Việt Nam đang dần tiến tới và bắt kịp với các công ty Nhật Bản tại Thái Lan.

Theo kết quả điều tra về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, Nhật Bản từ vị trí thứ 2 đã vươn lên đứng số 1 trong các nước và vùng lãnh thổ đầu tư trực tiếp vào Việt Nam. Tổng số vốn đầu tư 12 tháng qua của các DN Nhật đạt 9,11 tỷ USD. Tôi tin tưởng rằng đây là nền tảng tốt để DN Nhật Bản tiếp tục phát triển.

Tôi cũng cho rằng chính việc cải cách môi trường kinh doanh của Việt Nam đã tạo niềm tin để các DN Nhật Bản không chỉ đầu tư vào mảng sản xuất mà còn mở rộng sang lĩnh vực cung cấp dịch vụ, thương mại, cung cấp hàng hoá tiêu chuẩn chất lượng Nhật Bản tại Việt Nam.

Đây là sẽ mảng đầu tư mà chúng tôi sẽ chú trọng ở Việt Nam.

Nguồn: "Báo điện tử Chính phủ"

 

Triển vọng xuất khẩu hàng hóa sang thị trường Australia

Email In PDF

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam, trong 11 tháng năm 2017, kim ngạch hai chiều giữa Việt Nam và Australia đạt gần 5,9 tỷ USD, trong đó xuất khẩu của Việt Nam sang Australia đạt hơn 2,96 tỷ USD, tăng 13%, kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ Australia đạt hơn 2,92 tỷ USD, tăng 32% so với cùng kỳ năm 2016.

   Trong số 33 nhóm hàng xuất khẩu chủ yếu sang thị trường Australia, nhóm hàng điện thoại và linh kiện đứng đầu về kim ngạch với 582,49 triệu USD, chiếm 20% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa các loại sang Australia, tăng 7% so với cùng kỳ năm 2016; nhóm hàng máy vi tính và linh kiện đứng thứ 2 về kim ngạch, đạt 355,38 triệu USD, chiếm 12%, tăng 13%; tiếp đến nhóm hàng dầu thô 220,32 triệu USD, tăng 34%; giày dép 205,66 triệu USD, tăng 9%.

   Trong 11 tháng đầu năm nay, hầu như các loại hàng hóa của Việt Nam xuất khẩu sang Australia đều tăng kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái; trong đó một số mặt hàng có mức tăng trưởng tốt như máy ảnh, máy quay phim và linh kiện tăng 283%; các sản phẩm từ sắt thép tăng 161%; phương tiện vận tải và phụ tùng tăng 86%; đồ chơi, dụng cụ thể thao và bộ phận tăng 58%; sản phẩm hóa chất tăng 51%; sản phẩm mây, tre, cói và thảm tăng 39%.

   Đối với nhóm hàng thủy sản đang rất có tiềm năng xuất khẩu sang Australia vì hàng năm Australia tiêu thụ khoảng 1 triệu tấn hải sản. Tuy nhiên, sản xuất trong nước của Australia mới chỉ đáp ứng được 30% nhu cầu, phải nhập khẩu 70% từ nước ngoài, gồm các loại như cá hộp, phi lê cá, tôm, mực, bạch tuộc… Xu hướng nhập khẩu ngày càng tăng theo quy mô dân số và thị hiếu tiêu dùng hải sản.

   Hiện nay, Việt Nam là nhà cung cấp thuỷ sản lớn thứ tư của Australia sau Thái Lan, New Zealand và Trung Quốc nhưng chỉ chiếm khoảng 11% thị phần. Riêng với mặt hàng tôm, Việt Nam là nguồn cung lớn nhất cho Australia với kim ngạch chiếm khoảng trên 35% thị phần.

   Thương vụ Việt Nam tại Australia cũng khuyến cáo, Australia là thị trường xuất khẩu thủy sản tiềm năng của Việt Nam. Vấn đề hiện nay là các quy định nghiêm ngặt của Australia về vệ sinh an toàn thực phẩm và an toàn sinh học. Hàng thủy sản của Việt Nam vẫn còn vài trường hợp dư lượng kháng sinh và dư lượng thuốc diệt nấm bị phát hiện và điều này ảnh hưởng đến uy tín của hàng Việt Nam nếu không loại trừ triệt để.

Nguồn: Báo điện tử Chính phủ

 

Việt Nam - nước đầu tiên xuất khẩu quả vú sữa vào thị trường Mỹ

Email In PDF

Ngày 26/12, tại Công ty TNHH Sản xuất chế biến nông sản Cát Tường (xã Đạo Thạnh, TP. Mỹ Tho), Bộ NN&PTNT phối hợp với UBND tỉnh Tiền Giang tổ chức lễ công bố xuất khẩu lô quả vú sữa Việt Nam đầu tiên sang thị trường Mỹ.

Mỹ là thị trường nhập khẩu rau quả lớn thứ của Việt Nam, giá trị xuất khẩu năm 2016 đạt 84,5 triệu đô la, tăng 44,2% so với năm 2015. Trong 11 tháng đầu năm 2017, Việt Nam xuất khẩu trái cây sang thị trường này đạt 92,6 triệu USD, tăng 21,3% so cùng kỳ năm 2016. Đây là thị trường tiềm năng đối với trái cây Việt Nam nhất là đối với trái vú sữa, nhưng cũng là thị trường có yêu cầu rất cao.

Như vậy, vú sữa trở thành loại trái cây thứ 5 của Việt Nam được xuất khẩu sang thị trường Mỹ, sau thanh long, nhãn, chôm chôm, vải. Tiếp sau đây, quả xoài cũng sẽ được hoàn thiện thủ tục để xuất khẩu sang thị trường này.

Ông Phạm Anh Tuấn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Tiền Giang được TTXVN dẫn lời cho biết, đây là một tin vui cho ngành nông nghiệp địa phương cũng như nông dân tỉnh Tiền Giang. Là tỉnh trọng điểm về sản xuất nông nghiệp tại đồng bằng sông Cửu Long, Tiền Giang có lợi thế phát triển ngành sản xuất, chế biến và xuất khẩu trái cây.

Tỉnh có trên 74.000 ha cây ăn quả với sản lượng mỗi năm 1,4 triệu tấn, trong đó, có 1.100 ha vú sữa với khoảng 500 ha đang cho quả, sản lượng mỗi năm 10.000 tấn. Trong đó, vú sữa Lò Rèn Vĩnh Kim là một trong những loại trái cây đặc sản có lợi thế cạnh tranh của địa phương và đã được cấp chứng nhận Global GAP từ năm 2008.

Theo ông Tuấn, trong thời gian tới, tỉnh Tiền Giang sẽ tiếp tục đầu tư kiện toàn cơ sở hạ tầng, chuyển giao khoa học kỹ thuật thâm canh, xây dựng chuỗi giá trị trong sản xuất… Bên cạnh đó, nông dân trồng vú sữa cũng phát huy vai trò nòng cốt sản xuất và tham gia các hợp tác xã kiểu mới, áp dụng tiến bộ kỹ thuật tiên tiến cũng như thực hiện mối liên kết với các doanh nghiệp xuất khẩu, bảo đảm đầu ra và chất lượng nông sản xuất khẩu sang Hoa Kỳ.

Đại diện Công ty Cát Tường cho biết, để đáp ứng các yêu cầu kiểm dịch nhập khẩu của các thị trường yêu cầu cao nói chung, thị trường Mỹ nói riêng, công ty đã xây dựng nhà máy đóng gói đạt tiêu chuẩn, đầu tư thiết bị xử lý hơi nước nóng theo tiêu chuẩn Nhật Bản, bảo đảm đạt yêu cầu kiểm dịch khắt khe của các nước nhập khẩu. Ngoài ra, công ty phối hợp với nông dân xây dựng vùng nguyên liệu, định vị tọa độ để đăng ký mã số vùng trồng, hướng dẫn kỹ thuật thâm canh, thống kê sản lượng, bao trái… và ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm.

Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Trần Thanh Nam được Báo Nông nghiệp Việt Nam dẫn lời chia sẻ, sau 10 năm đàm phán, Bộ NN&PTNT và các bộ, ngành đã từng bước tháo gỡ các rào cản kỹ thuật, mở cửa thị trường nhập khẩu đối với trái vú sữa.

Cụ thể, Việt Nam và Mỹ đã thống nhất kiểm soát các đối tượng kiểm dịch trên trái vú sữa, cũng như các loại quả tươi khác của Việt Nam. Vú sữa sang Mỹ phải được chiếu xạ, đơn vị kiểm dịch phải kiểm soát từ khu vực vườn trồng, bao gói, đến khâu kiểm dịch và tuân thủ đúng quy trình, quy định đã thống nhất.

Ông Nam cho biết thêm, Việt Nam là nước đầu tiên và duy nhất được cấp phép xuất khẩu trái vú sữa tươi vào thị trường Mỹ. Do đó, sự kiện này sẽ tạo thêm nhiều cơ hội xuất khẩu cho trái vú sữa nói riêng và trái cây tươi Việt Nam nói chung. Đồng thời đánh dấu khả năng bảo đảm quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn Global GAP, kiểm soát dịch bệnh. Thời gian tới, cần phải giảm giá thành sản xuất quả vú sữa, bảo đảm tiêu chuẩn sản xuất, cũng như đầu tư cho Global GAP.

Nguồn: Báo điện tử chính phủ

 

Nội dung trọng điểm của FSMA

Email In PDF

Bộ Luật Hiện đại hóa an toàn vệ sinh thực phẩm (Food Safety Modernization Act - FSMA) đã được ký thành vào năm 2011. Mục đích là để làm cho việc cung cấp thực phẩm ở thị trường Mỹ được an toàn, bằng việc chuyển hướng tập trung của các cấp quản lý liên bang từ việc phòng ngừa nhiễm bẩn thực phẩm.

Luật này đòi hỏi các biện pháp phòng ngừa toàn diện chứ không còn chỉ kiểm tra ở biên giới. Luật này yêu cầu việc đầu tiên là doanh nghiệp phải đăng ký với FDA để được cấp phép nhập khẩu thực phẩm vào Mỹ. Lưu ý khi tiến hành đăng ký với FDA thì FDA phải có một thời gian thẩm định lại xem nhà máy có đảm bảo được điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm hay không thì mới cấp mã hàng.

Một số nội dung trọng điểm của luật FSMA là:

– Các chiến lược bảo vệ thực phẩm khỏi bị làm giả cố ý
– Vận chuyển thực phẩm cho người và động vật hợp vệ sinh
– Quy tắc sản xuất an toàn cuối cùng và báo cáo tác động môi trường
– Các chương trình xác nhận nhà cung cấp nước ngoài (FSVP)
– Chứng nhận bên thứ ba tin cậy
– Giám sát ngăn ngừa đối với Quy tắc cuối cùng thực phẩm cho người
– Kiểm soát ngăn ngừa đối với Quy tắc cuối cùng thực phẩm cho động vật.
Trong đó, nội dung mà doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam nên quan tâm nhất đó là Chương trình xác nhận nhà cung cấp nước ngoài của cục Quản lý thực phẩm và dược phẩm Mỹ (FDA). Nhà nhập khẩu tại Mỹ phải lập các chương trình để xác nhận sự an toàn của tất cả các chuyến hàng nhập vào Mỹ, bằng các chứng nhận an toàn cho mỗi chuyến hàng, theo các quy định mới về các lô hàng đến cảng Mỹ từ ngày 30/5/2017.
Nâng cao trách nhiệm của các nhà nhập khẩu Mỹ:
Các nhà nhập khẩu Mỹ chịu trách nhiệm về các hành động bao gồm:

1) Xác định các mối nguy có thể đoán trước được hoặc đã biết với từng thực phẩm.
“Mối nguy” nghĩa là gì? Nhà nhập khẩu (và cả các nhà cung cấp nước ngoài của họ) phải phân tích và “lường trước” tất cả những rủi ro của thực phẩm và, phải ghi rõ các biện pháp đã thực hiện để ngăn ngừa trong quá trình sản xuất, vận chuyển và xử lý từng loại thực phẩm họ sản xuất. Đó là:
– Các mối nguy về sinh học, bao gồm ký sinh trùng và vi khuẩn gây bệnh
– Các mối nguy về hoá học, bao gồm các mối nguy phóng xạ, thuốc trừ sâu và dư lượng thuốc, độc tố tự nhiên, phân huỷ thực phẩm, các chất phụ gia và tạo màu không được chấp thuận, và các chất gây dị ứng thực phẩm
– Các mối nguy vật lý, như nhiễm bẩn thuỷ tinh hoặc kim loại
– Có thể là các mối nguy gây ra bệnh hoặc thương tích xảy ra tự nhiên, hoặc xảy ra vô tình hay cố ý để đạt được lợi ích kinh tế, như thay thế một thành phần rẻ tiền hơn.

2) Đánh giá rủi ro của thực phẩm, dựa trên phân tích mối nguy, và việc thực hiện của các nhà cung cấp an toàn.
Việc đánh giá phải xem xét các yếu tố bao gồm:
– Công thức thực phẩm
– Điều kiện, chức năng và thiết kế của các cơ sở và thiết bị của một công ty sản xuất thực phẩm điển hình
– Nguyên liệu và các thành phần khác
– Thực tiễn vận chuyển
– Quy trình khai thác, nuôi trồng, sản xuất, chế biến và đóng gói
– Các hoạt động đóng gói và dán nhãn
– Lưu trữ và phân phối
– Cách sử dụng dự định và có thể lường trước
– Vệ sinh, bao gồm vệ sinh lao động.

3) Sử dụng đánh giá rủi ro của các thực phẩm nhập khẩu, và việc thực hiện của các nhà cung cấp để chấp thuận nhà cung cấp.

4) Xác minh nhà cung cấp phù hợp.

5) Thực hiện các hoạt động khắc phục.
Luật mới cho phép FDA ngăn chặn việc đưa vào thị trường Mỹ các thực phẩm bị pha trộn hoặc bị nhầm lẫn, bao gồm các thực phẩm có nguy cơ gây hại.
– Thực phẩm pha trộn có thể do nhiều yếu tố, bao gồm nhiễm bẩn vi khuẩn và hoá học, ôi thiu hoặc phân huỷ, có chưa một phụ gia không an toàn, được chuẩn bị, đóng gói và bảo quản trong điều kiện không vệ sinh, và thay các nguyên liệu giá trị bằng các nguyên liệu kém khác.
– Thực phẩm bị nhầm lẫn trên bao bì có thể do nhiều nguyên nhân, bao gồm không công bố các thành phần nhất định hoặc các chất gây dị ứng thực phẩm chính, và không tuân thủ các thông tin dinh dưỡng trên bao bì. Công cụ này cho phép FDA loại bỏ hiệu quả các thực phẩm khỏi kênh phân phối, trong khi cơ quan này thực hiện các hành động hợp pháp và thực thi khác.

Nguồn: tiepthithegioi.vn

 

Thực phẩm Việt 'ngơ ngác' vì bị từ chối vào Mỹ

Email In PDF

Hơn 1.000 công ty Việt Nam đã rớt khỏi danh sách được xuất hàng vào Mỹ do không nắm bắt được quy định mới.

“Chúng tôi xuất khẩu gạo qua Mỹ ba năm qua. Nhưng từ đầu năm đến giờ, chúng tôi chưa có hợp đồng nào đi Mỹ. Với các thay đổi về tiêu chí vệ sinh an toàn thực phẩm mới, có thể các nhà nhập khẩu bên đó đang tạm hoãn mua hàng để kiểm tra lại”, ông Phạm Thái Bình – Giám đốc công ty Gạo Trung An cho biết.

Công ty ông Bình chỉ là chưa có đơn hàng. Nghiêm trọng hơn, trong 7 tháng qua, Cơ quan Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA) đã có 32 lệnh cảnh báo đối với doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu vào Mỹ. Nguyên nhân là các doanh nghiệp không nắm bắt và thích ứng được với thay đổi chính sách của nước này.

Tháng 12/2016, có 1.845 nhà máy thực phẩm ở Việt Nam đăng ký với FDA để xuất khẩu vào Mỹ. Nhưng trong tháng 1 năm nay, con số này rớt xuống còn 806. Ông Mark Gillin – Phó chủ tịch Hiệp hội Thương mại Mỹ tại Việt Nam (AmCham Vietnam) cho biết, theo quy định mới, tất cả các nhà máy đã đăng ký phải gia hạn đăng ký sau mỗi 2 năm, bắt đầu từ 2016, trong giai đoạn từ 1/10 đến 31/12. Tuy nhiên, hơn 1.000 công ty Việt Nam không biết quy định mới nên không đăng ký. Kết quả là họ bị rớt khỏi danh sách và không thể xuất hàng vào Mỹ.

“Theo quy định mới về an toàn thực phẩm dành cho sản phẩm nhập khẩu, dựa vào Luật Hiện đại hóa an toàn thực phẩm Mỹ và sự dịch chuyển trách nhiệm trong điều tra nhập khẩu cá da trơn từ FDA sang USDA, chúng tôi quan ngại rằng sự thiếu hiểu biết các quy định mới có thể gây ra sự giảm sút đáng kể về kim ngạch xuất khẩu nông nghiệp và thực phẩm của Việt Nam vào Mỹ”, ông Mark Gillin nhận định tại "Diễn đàn an toàn thực phẩm toàn cầu" vừa diễn ra tại TP HCM.

Là một trong 15 đối tác thương mại nông nghiệp lớn nhất của Mỹ, năm ngoái, chỉ riêng cá và tôm cua đã mang về cho Việt Nam 1,4 tỷ USD. Tuy nhiên, đường vào Mỹ ngày càng khó, khi các quy định thành phần của Luật Hiện đại hóa an toàn thực phẩm Mỹ (FSMA) đang dần có hiệu lực. Trong tháng 5 và 6 vừa qua, nhiều đoàn thanh tra của FDA đã đến các nhà máy thủy sản tại Việt Nam làm việc và cũng bắt đầu dò hỏi doanh nghiệp về các hiểu biết liên quan đến FSMA.

FSMA có tinh thần cốt lõi là chuyển trọng tâm từ đối phó nhiễm bẩn thực phẩm sang phòng chống nhiễm bẩn thực phẩm. Luật này không chỉ quan tâm đến kiểm tra chất lượng đầu cuối mà quy định chi tiết và chặt chẽ cả chuỗi sản xuất thực phẩm, từ trang trại đến bàn ăn.

Luật cũng yêu cầu nhà nhập khẩu tham gia Chương trình kiểm tra nhà cung ứng nước ngoài (FSVP). Nghĩa là các đơn vị tại Mỹ muốn nhập khẩu sẽ phải kiểm tra kỹ hơn về nguồn hàng từ Việt Nam so với trước.

Trong khi đó, với nhà chế biến, nếu từ trước đến nay có thể tự tìm hiểu các tiêu chí của Hazard rồi áp dụng thì FSMA lại gắt gao hơn. Luật yêu cầu các nhà chế biến phải có một cá nhân được học về FSMA theo các chương trình do FDA công nhận. Tức là, doanh nghiệp muốn đưa hàng qua Mỹ thì phải cử một người đi học và tốt nghiệp được chương trình luật FSMA cho Mỹ cấp bằng.

“FSMA là luật. Nó khác với các tiêu chuẩn tự nguyện. Với FSMA mà không tuân thủ là không có cơ hội đưa sản phẩm vào Mỹ. Vì vậy, thay vì hỏi có nên áp dụng FSMA hay không thì phải hỏi là có muốn xuất khẩu đi Mỹ hay không. Nếu đã muốn xuất hàng đi Mỹ thì FSMA là bắt buộc”, ông Nguyễn Huy - Giám đốc Thực phẩm của Bureau Veritas Việt Nam nhấn mạnh.

Trước tính cấp bách của các thay đổi này, Thủ tướng vừa giao Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn tìm hiểu những thay đổi trong quy định nhập khẩu của Mỹ để kịp thời thông tin đến các cơ quan, hiệp hội, doanh nghiệp liên quan nhằm có biện pháp ứng phó hiệu quả, giảm thiểu thiệt hại về xuất khẩu.

Các chuyên gia quốc tế cho rằng, xu hướng tăng hàng rào kỹ thuật trong nhập khẩu thực phẩm và truy xuất chất lượng đến tận nguồn đang diễn ra mạnh mẽ tại các thị trường phát triển. Việt Nam muốn giữ vị thế là một nhà xuất khẩu lớn thì phải chấp nhận cuộc chơi.

Báo cáo của Trường kinh doanh Marshall dành cho khu vực châu Á – Thái Bình Dương công bố cuối năm ngoái nhận định, các biện pháp phi thuế quan trong thương mại đang ngày càng gia tăng và phức tạp hơn ở các quốc gia. Trong số đó, rào cản kỹ thuật đối với thương mại và các biện pháp vệ sinh – kiểm dịch động thực vật được coi là những rảo cản lớn nhất.

“Nhu cầu của thế giới về các loại đạm động vật lành mạnh và thực phẩm nhiệt đới ngày càng tăng. Vấn đề đặt ra là làm sao nâng cao quyền hạn và năng lực cho ngành thực phẩm Việt Nam, thúc đẩy canh tác nông nghiệp bền vững và tuân thủ các quy định mới của FDA”, bà Ratih Puspitasari, Giám đốc Phụ trách Hợp tác Khoa học và Luật định củaCargill khu vực Đông Nam Á và Ấn Độ nhận định.

Nguồn: vnexpress.net

 

Gian nan cạnh tranh giao nhận

Email In PDF

Thị trường giao nhận đang trở thành “mỏ vàng” cho các doanh nghiệp (DN)logistics. Tuy nhiên, việc hàng trăm DN giao nhận, từ các “ông lớn” đến start-up đồng loạt nhảy vào cuộc đua giành thị phần khiến thị trường giao nhận ngày càng trở nên khốc liệt.

Thống kê từ Hiệp hội Thương mại điện tử cho biết, tỷ lệ thanh toán trực tuyến hiện vào khoảng 8 – 15%, trong khi mảng giao hàng – nhận tiền (Cash On Delivery – COD) chiếm tới 85 – 90%.

Trong bối cảnh thương mại điện tử (TMĐT) Việt Nam tăng trưởng “nóng” với tốc độ 150% và dự kiến đạt 10 tỷ USD trước năm 2022, dịch vụ giao nhận đang trở thành mảnh đất màu mỡ cho đầu tư.

Đua tranh thị phần

Ngày 17/7, Deutsche Post DHL, một tên tuổi chuyển phát nhanh toàn cầu, tuyên bố tham gia vào thị trường vận chuyển B2C nội địa tại Việt Nam, với đại diện DHL eCommerce.

Dịch vụ của DHL sẽ vận chuyển hàng đến các điểm trong khu vực Tp.HCM, Hà Nội và những tỉnh, thành trung tâm trong thời gian 1 – 2 ngày kèm theo các dịch vụ như thu tiền hộ, mở hộp kiểm tra…

Trước DHL, các đại gia có thị phần hàng đầu trong thị trường chuyển phát như VNPost, Viettel Post, Kerry TTC hay Giao hàng nhanh… cũng đã tích cực hoạt động với những giải pháp dịch vụ dành riêng cho TMĐT.

Viettel Post (Tổng công ty Cổ phần Bưu chính Viettel) với mạng lưới tại 713/713 quận, huyện và đội ngũ giao nhận khoảng 4.000 người trên toàn quốc, đang tỏ thế áp đảo trên thị trường.

Ông Hoàng Quốc Anh, Tổng Giám đốc Viettel Post, cho biết, từ năm 2014, công ty đã đầu tư mạnh vào kho bãi, đội ngũ giao nhận, giám sát hành trình giao nhận… nhằm đón đầu sự phát triển của TMĐT.

VNPost (Tổng công ty Bưu điện Việt Nam) trước đây vốn chỉ tập trung vào nhóm khách hàng chuyển phát bưu chính nhưng nay đã chuyển hướng sang cả các DN TMĐT.

Với hệ thống hoạt động toàn quốc, cùng 18.000 bưu tá và nhân viên phát xã, VNPost tung ra giải pháp toàn diện cho các cửa hàng online, từ quảng cáo, chuyển phát, thu tiền đến hậu mãi.

Chỉ mới thành lập từ năm 2012, Giao hàng nhanh đang trở thành một tên tuổi đáng gờm trên thị trường giao nhận. Đến nay, công ty này đã có 86 điểm gửi hàng, phủ kín gần như cả nước với chính sách “đền bù bất kể lý do” để cạnh tranh.

Bên cạnh các “ông lớn” giao nhận truyền thống, các thế lực giao hàng nhanh ứng dụng công nghệ cũng sớm xuất hiện như Grab, Uber, sShip, Sapo… Cụ thể như Grap Express, với lợi thế ứng dụng di động trong vận chuyển, đang chớp cơ hội tại phân khúc giao nhận với giá 15.000 đồng cho 5km đầu (trong nội thành Tp.HCM), kèm dịch vụ thu tiền hộ miễn phí và thời gian giao hàng dưới một giờ.

Hàng loạt start-up cũng đang nhảy vào tham chiến trong lĩnh vực này. Chỉ trong ba năm trở lại đây, có thể kể ra rất nhiều cái tên “đang lên” như ShipS, AhaMove, Bagasus, giaohangso1.vn, tochanh.vn, giaohangonline Rồng Xanh, Zozoship.vn…

Anh Nguyễn Minh Trí, một “tay ngang” khởi nghiệp với dịch vụ giao hàng, chia sẻ: “Cạnh tranh khốc liệt nhưng các shop online giờ mọc lên như nấm nên cơ hội vẫn rộng mở. Tốc độ tăng trưởng đơn hàng của chúng tôi hiện tại vào khoảng 30 – 50%/tháng. Nếu đầu tư tốt vào nhân sự (đội sale) và marketing, tăng trưởng 100 – 300% là trong tầm tay”, anh Trí nói.

Thành bại ở tốc độ

Thị trường giao nhận, vốn chỉ có khoảng 5 – 6 công ty tham gia vào năm 2013, đến nay đã có hơn 60 DN lớn, nhỏ tham gia. Để giành lợi thế trong cuộc đua đường trường, các DN cần có chiến lược nhằm đẩy nhanh tốc độ giao hàng và chất lượng dịch vụ.

Kết quả khảo sát về các giải pháp vận chuyển thương mại của Temando cho thấy, 80% khách hàng muốn được vận chuyển hàng mua trong ngày. Trong đó, 61% còn muốn tốc độ nhanh hơn. Thời gian “lý tưởng” theo mong muốn của khách hàng là giao hàng trong vòng 1 – 3 giờ từ lúc đặt hàng.

Theo ông Trần Ngọc Thái Sơn – Giám đốc điều hành Tiki.vn, cái khó của TMĐT là công nghệ, kho bãi, nhân sự có kinh nghiệm. Chỉ công ty nào làm tốt các “mảnh ghép” này mới đủ sức cạnh tranh. Giao hàng càng nhanh lợi thế càng lớn. Vấn đề là làm sao để việc giao hàng vừa nhanh nhất mà chi phí hợp lý nhất.

“Nhằm giải được “bài toán” này, Tiki đang nỗ lực về mặt công nghệ để có những thuật toán giúp dự báo chính xác nhu cầu khách hàng cần gì, bao nhiêu và ở đâu. Từ đó, hàng hóa được sắp ở đúng vị trí kho bãi và khách hàng chỉ cần đặt là có ngay”, ông Sơn cho hay.

Ông Thomas Harris – Giám đốc điều hành DHL eCommerce Việt Nam, cũng cho rằng giao hàng nhanh và dịch vụ thu hộ tiền khi giao hàng sẽ là yếu tố quyết định thành bại của DN giao nhận. Vì vậy, DHL eCommerce đã đưa ra dịch vụ vận chuyển được thiết kế phù hợp với các DN kinh doanh trực tuyến trong thời gian nhanh nhất.

Về phía DN TMĐT, ông Alexandre Dardy, Giám đốc điều hành Lazada Việt Nam, khẳng định Lazada đặc biệt chú trọng dịch vụ giao hàng nhanh, nhất là giao hàng nhanh trong ngày. Đây là điều kiện để các đơn vị giao hàng nhanh trở thành đối tác giao hàng của Lazada.

Tốc độ là sống còn, tuy nhiên, theo các chuyên gia, thị trường giao nhận TMĐT không chỉ là nhanh mà còn ở chất lượng dịch vụ, đòi hỏi các DN giao nhận cần tập trung đào tạo đội ngũ giao nhận chuyên nghiệp, trình độ cao, để đem lại dịch vụ khác biệt làm hài lòng khách hàng.

Nguồn: thoibaokinhdoanh.vn

     

Thêm nguy cơ khiến cá tra Việt “mắc cạn” tại Mỹ

Email In PDF

Hoa Kỳ là một trong những thị trường nhập khẩu cá tra chủ yếu của Việt Nam, tuy nhiên các tiêu chuẩn kỹ thuật mang tính phòng vệ quá mức, vượt quá yêu cầu kiểm soát an toàn thực phẩm và thuế chống bán phá giá cao đang khiến xuất khẩu cá tra sang thị trường này gặp nhiều khó khăn.

Trước những quy định mới ngày càng xiết chặt của thị trường Mỹ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Bộ NN&PTNT) vừa ban hành Chương trình kiểm soát an toàn thực phẩm cá và các sản phẩm cá bộ Siluriformes (bộ cá da trơn, chủ yếu là cá tra, ba sa...) xuất khẩu sang thị trường này.

Kiểm soát chặt từ 1/9

Theo đó, sản phẩm cá da trơn xuất khẩu sang Mỹ sẽ được kiểm soát chặt chẽ từ công đoạn nuôi, thu hoạch, vận chuyển cá tới cơ sở chế biến, cho đến khâu chế biến, xuất khẩu. Sản phẩm phải đảm bảo yêu cầu liên quan đến 85 chỉ tiêu về thuốc thú y, 106 chỉ tiêu về thuốc bảo vệ thực vật, bốn chỉ tiêu về thuốc nhuộm, 17 chỉ tiêu về kim loại, tám chỉ tiêu về vi sinh, hóa học... dựa theo những chỉ tiêu mà phía Hoa Kỳ đã đưa ra.

Như vậy, sau khoảng thời gian chuyển tiếp 18 tháng, từ ngày 1/9, cá tra nhập khẩu vào Mỹ sẽ tuân theo các quy định như các sản phẩm cá da trơn sản xuất tại Mỹ, và sẽ chịu sự giám sát nghiêm ngặt của Bộ nông nghiệp nước này (USDA).

Bộ NN&PTNT Việt Nam cho biết thêm, trong trường hợp có lô hàng bị cảnh báo chính thức từ Cơ quan thẩm quyền Mỹ, Cục Quản lý chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản (NAFIQAD) sẽ yêu cầu cơ sở chế biến lô hàng thực hiện truy xuất nguồn gốc lô hàng, tổ chức điều tra nguyên nhân dẫn đến lô hàng không đảm bảo an toàn thực phẩm, thiết lập và thực hiện hành động khắc phục và có báo cáo gửi NAFIQAD. Đồng thời sẽ tạm dừng xuất khẩu sản phẩm cá da trơn sang Mỹ của cơ sở này.

Đối với lô hàng bị cảnh báo có liên quan đến vi phạm của cơ sở nuôi, NAFIQAD sẽ thông tin đến Tổng cục Thủy sản để thực hiện xác minh, lấy mẫu kiểm tra, đánh giá việc chấp hành các quy định, làm rõ vi phạm và xử lý theo quy định pháp luật.

Trước đó, đầu tháng 7/2017, Cơ quan Thanh tra và An toàn thực phẩm Mỹ (FSIS) đã có thông báo về việc sẽ áp dụng chính thức quy định về nhập khẩu tại Chương trình thanh tra bắt buộc đối với cá và sản phẩm cá bộ Siluriformes từ ngày 2/8 thay vì 1/9 (thời điểm chính thức áp dụng như quy định tại Chương trình và các thông báo của FSIS trước đây).

Doanh nghiệp lo lắng, giảm sụt xuất khẩu

Cá tra Việt Nam hiện đang xuất khẩu sang 160 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, với giá trị xuất khẩu chiếm khoảng 1,6 - 1,7 tỷ USD/năm. Song, cá tra cũng chính là đối tượng chịu nhiều rào cản nhất trong số sản phẩm thủy sản xuất trên thế giới

Cụ thể, từ năm 2003, Ủy ban Thương mại Mỹ đã ra phán quyết áp thuế chống bán phá giá lên sản phẩm cá tra Việt Nam và vẫn áp dụng đến nay. Cùng với đó,trước áp lực của Hội người nuôi cá nheo, Mỹ một lần nữa dựng rào cản với cá tra Việt Nam bằng việc thiết lập chương trình giám sát đối với các loài cá thuộc bộ Siluriformes, trong đó có cá tra của Việt Nam, và chuyển sự giám sát từ Cục Quản lý thực phẩm và dược phẩm (FDA) sang USDA.

Ông Trương Đình Hòe, Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) cho biết, hiện tại cá tra xuất khẩu sang Mỹ được kiểm soát bởi FDA. Nhưng kể từ 1/9, Ban Quản lý thực phẩm nông nghiệp an toàn và dịch vụ kiểm soát (FSIS) thuộc USDA sẽ kiểm tra tất cả các quy trình tạo ra sản phẩm cá tra, từ khâu con giống đến sản phẩm cuối cùng để tiếp tục được xuất khẩu cá da trơn vào Mỹ sau thời gian chuyển tiếp (đến hết 31/8).

Như vậy đặt ra yêu cầu Việt Nam phải đưa ra một hệ thống những tiêu chuẩn được phía Mỹ xem xét là tương đương với phía Mỹ và căn cứ trên đó, các DN Việt Nam sẽ làm theo.

Tuy nhiên, qua rà soát, các quy định hiện hành của Việt Nam chưa hoàn toàn tương đương với quy định của Mỹ. Do đó, Bộ NN&PTNT đã ban hành Chương trình này nhằm phục vụ cho việc đánh giá tương đương của Mỹ, đồng thời, giảm thiểu những lô hàng xuất sang thị trường này bị trả về cũng như tránh gây tốn kém chi phí cho doanh nghiệp.

Dự kiến, các nội dung của Chương trình sẽ được dẫn chiếu đưa vào bản SRT kèm theo các hồ sơ, tài liệu liên quan đang được NAFIQAD hoàn thiện và dự kiến sẽ gửi cho FSIS trước ngày 20/8.

Việt Nam có 45 nhà máy đủ điều kiện xuất khẩu vào Mỹ theo chương trình thanh tra cá da trơn, nhưng hiện chỉ có những DN có lợi thế về thuế chống bán phá giá thấp vẫn tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu cá tra sang Mỹ.

Thống kê của VASEP cho thấy, trong sáu tháng đầu năm, Mỹ tiếp tục là thị trường dẫn đầu về nhập khẩu cá tra của Việt Nam. Tuy vậy, kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt 176,4 triệu USD, giảm 5,7% so với cùng kỳ năm trước. Do thuế chống bán phá giá cao nên chủ yếu chỉ có ba DN xuất khẩu sang thị trường này với khối lượng và giá trị đáng kể.

Bà Trương Thị Lệ Khanh, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Vĩnh Hoàn – DN xuất khẩu cá tra sang Mỹ cũng đã từng bày tỏ lo lắng không biết điều gì sẽ xảy ra khi Hoa Kỳ thực thi Chương trình giám sát cá da trơn.

Bởi theo bà Khanh, điều kiện cơ sở hạ tầng của Mỹ hiện vẫn chưa có đủ khả năng để thực thi theo chính sách này. Một số cơ sở kiểm tra nhập khẩu chính thức được chỉ định vẫn đang còn trong quá trình xây dựng. Nếu thực thi giám sát nhiều khả năng sẽ xuất hiện tình trạng ùn ứ ngay lập tức. Bên cạnh đó, DN có khả năng còn phải chịu thêm các chi phí.

Trước tình hình này, đại diện VASEP cho rằng, Bộ NN&PTNT cần sớm làm việc với Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ để tháo gỡ những vướng mắc này nhằm tránh việc hàng hóa bị ách tắc, không kịp giao hàng cho đối tác.

Cũng theo VASEP dự báo từ nay đến hết năm 2017, xuất khẩu cá tra sang thị trường Mỹ có thể sẽ sụt giảm đáng kể.

Nguồn: enternews.vn

 

Những điều cần lưu ý khi xuất hàng sang Mỹ

Email In PDF

Việc hiểu những quy định Mỹ đề ra trong quản lý an toàn thực phẩm (ATTP) có thể giúp các doanh nghiệp đã và đang có ý định xuất khẩu vào thị trường này tránh được những sai lầm không đáng có.

Một ngày cuối tháng 7, bà Lê Thanh Trúc, Giám đốc một công ty ở Bến Tre, đã tranh thủ lên TPHCM dự buổi hội thảo chia sẻ về những lưu ý khi xuất khẩu hàng vào Mỹ (*). Năm nay, công ty của bà chưa có kế hoạch xuất hàng sang thị trường này nhưng bà vẫn lo chuẩn bị cho tương lai.

Một trong những nội dung đáng lưu tâm, theo bà Trúc, đó là việc trước khi xuất hàng sang Mỹ, doanh nghiệp cần đăng ký với Cục Quản lý thực phẩm và dược phẩm Mỹ (FDA) và gửi thông báo trước khi xuất hàng đi, dù chỉ là hàng mẫu.

Từ khóa quan trọng được bà Trúc nhấn mạnh là “hàng mẫu”, bởi như bà chia sẻ, không ít doanh nghiệp Việt Nam chủ quan, cho là với hàng mẫu thì cứ gửi đi khi đối tác yêu cầu, chẳng làm sao cả. Thực tế ngay tại hội thảo đã có doanh nghiệp trình bày họ cũng từng mắc phải lỗi này và cảm thấy lo lắng.

Tại sao chỉ gửi hàng mẫu thôi mà cũng phải đăng ký? Theo ông Nestor Scherbey, chuyên gia của Liên minh Thuận lợi hóa thương mại toàn cầu, diễn giả chính tại hội thảo nhắc đến ở đầu bài, Mỹ muốn siết chặt quản lý ATTP nên vấn đề đối với họ là hàng hóa có an toàn không chứ không phải là số lượng hàng nhiều hay ít. Trong trường hợp xuất khẩu mà không đăng ký, doanh nghiệp có thể bị cấm xuất khẩu vào Mỹ hoặc đối mặt với án phạt.

Đối với các doanh nghiệp đã đăng ký với FDA, cần lưu ý phải đăng ký hai năm một lần trong khoảng thời gian từ ngày 1-10 đến 31-12 vào mỗi năm chẵn. Về thủ tục thông báo trước, các doanh nghiệp có thể khai báo trực tuyến trên hệ thống của FDA (Prior Notice System Interface - PNSI). Chi tiết có thể tham khảo tại trang web: http://www.access.fda.gov.

Kiểm soát rủi ro trong sản xuất

Kể từ ngày 30-5-2017, mỗi nhà nhập khẩu Mỹ và/hoặc chủ hàng và nhà cung cấp phải tuân thủ các quy định mới đối với các chuyến hàng đến cảng của Mỹ. Quy định mới này yêu cầu nhà nhập khẩu và các nhà cung cấp nước ngoài phải thực hiện các hoạt động kiểm soát ATTP dựa trên rủi ro. Nói cách khác, doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam phải phân tích và lường trước mọi rủi ro tiềm tàng, đồng thời có biện pháp phòng ngừa cũng như xử lý khi có rủi ro. Lưu ý là tất cả đều phải được ghi chép và lưu trữ thành văn bản để phục vụ việc quản lý và kiểm tra. Dĩ nhiên, bên cạnh hồ sơ văn bản bằng tiếng Việt, phải có một bộ hồ sơ bằng tiếng Anh để làm việc với cơ quan kiểm tra của Mỹ.

Để dễ hiểu hơn, ông Scherbey đưa ra ví dụ minh họa. Giả sử doanh nghiệp của bạn sản xuất thực phẩm và dùng dao cắt kim loại trong quá trình sản xuất. Việc dùng dao cắt kim loại có thể phát sinh trường hợp một mảnh kim loại rớt ra, xuất hiện trong thực phẩm. Do vậy, doanh nghiệp phải có phương án ngăn ngừa rủi ro này. Và giả sử doanh nghiệp đã có phương án ngăn ngừa nhưng không kiểm soát kỹ, khi hàng được đưa ra thị trường, bị người dùng hoặc cơ quan kiểm tra phát hiện thì lúc đó, doanh nghiệp có phương án xử lý như thế nào để ngăn ảnh hưởng tiêu cực đến khách hàng cũng như công tác thu hồi?... Tất cả những điều này đều phải được trình bày thành văn bản.

Việc phân tích và quản lý các mối nguy hại như vậy, theo ông Scherbey là điều bắt buộc phải thực hiện nếu doanh nghiệp không muốn trả giá đắt. Ông dẫn ví dụ về một doanh nghiệp thủy sản lớn của Việt Nam, vào ngày 28-6 vừa qua, bị yêu cầu thu hồi khoảng 38 sản phẩm cá Swai đông lạnh vì đã không vượt qua được các bước kiểm tra của cơ quan thanh tra và an toàn thực phẩm (FSIS). Ví dụ như vậy để thấy ngay cả một doanh nghiệp lớn, nhiều kinh nghiệm xuất khẩu sang Mỹ mà còn mắc lỗi thì những doanh nghiệp khác, một khi đã quyết định xuất hàng sang thị trường này thì cần phải rất cẩn trọng trong quá trình sản xuất.

FDA kiểm tra có đáng sợ?

Khi đã chọn bán hàng sang Mỹ, chuyện vào một ngày nào đó, doanh nghiệp nhận được thông báo từ FDA về việc họ sẽ đến kiểm tra là chuyện bình thường.

Xin kể ra đây câu chuyện của Công ty cổ phần Sản xuất - Thương mại Tài Tài, đơn vị vừa đón tiếp FDA đến kiểm tra vào cuối tháng 4 vừa qua. Theo chia sẻ của ông Trần Trung Vĩnh Thái, Giám đốc nhà máy, trước khi FDA đến kiểm tra, họ gửi một e-mail thông báo sẽ đến kiểm tra và cho phép công ty chọn khoảng thời gian thích hợp. Và FDA đã cử một người đến làm việc trong hai ngày liên tiếp, tập trung vào việc kiểm tra hồ sơ quản lý của công ty và dành một phần thời gian thăm hoạt động nhà máy.

Nhận xét về nhân viên FDA, ông Thái cho biết họ làm việc tập trung với cường độ cao; rất lịch sự, tỉ mỉ, hỏi kỹ từng chi tiết nhưng không hạch sách. Để minh họa về sự tỉ mỉ của họ, ông Thái dẫn hai câu chuyện nhỏ.

Chuyện thứ nhất, trước khi đến Việt Nam, qua trao đổi e-mail, họ hỏi rất kỹ về thời tiết, khí hậu, khoảng cách từ công ty đến nhà máy, thời gian di chuyển mất bao lâu, có kẹt xe hay không... Chuyện thứ hai liên quan đến cục xà phòng dùng cho công nhân rửa tay. Họ quan tâm xem xà phòng này công ty mua ở đâu, có nhãn hiệu hay là hàng chợ, những hóa đơn chứng minh. Sở dĩ như vậy vì họ quan niệm xà phòng là để rửa tay mà bàn tay thì tiếp xúc trực tiếp với sản phẩm nên không thể không quan tâm. Ngay cả việc quản lý những cục xà phòng như thế nào, họ cũng hỏi kỹ. Nhiều khi do không để ý, doanh nghiệp chẳng giữ hóa đơn, hoặc cất giữ xà phòng (còn nguyên bao bì, chưa dùng) cùng nơi với văn phòng, như vậy là không đúng, sẽ bị điểm trừ. Nhiều điểm trừ nhỏ cộng lại sẽ thành một điểm trừ lớn và có thể ảnh hưởng đến việc đánh giá doanh nghiệp.

Đối với những doanh nghiệp nhỏ nhận được thông báo kiểm tra từ FDA, ông Thái chia sẻ cần trao đổi kỹ với họ qua e-mail để biết mình cần chuẩn bị những gì trước khi tiếp đón. Khi tiếp họ, doanh nghiệp phải có một người giỏi tiếng Anh chuyên ngành để có thể giải thích những điểm họ thắc mắc. Nếu chỉ là một người giỏi tiếng Anh nhưng không biết tới những từ chuyên ngành, không hiểu về ngành, thì quá trình làm việc có thể sẽ rất tốn thời gian.

Thêm một điều cần lưu ý, theo ông Thái, lần đầu FDA sang kiểm tra đó là họ đi theo trách nhiệm, doanh nghiệp không tốn chi phí. Nếu kết quả kiểm tra không đạt, trước mắt có thể ảnh hưởng đến việc xuất hàng hóa. Đến lần tái kiểm tra thì doanh nghiệp phải chi trả toàn bộ chi phí đi lại, ăn ở cho nhân viên FDA và đây là khoản chi phí không nhỏ. Do vậy, ông Thái cho rằng việc chuẩn bị thật chu đáo trước khi đón tiếp FDA vẫn là điều quan trọng nhất.

(*) Hội thảo do Trung tâm Nghiên cứu kinh doanh và hỗ trợ doanh nghiệp (BSA) tổ chức.

Nguồn: TBKTSG Online

 

6 nhóm hàng hóa xuất khẩu chính của Việt Nam vào ASEAN

Email In PDF

Theo Tổng cục Hải quan, sau 20 năm Việt Nam gia nhập ASEAN, khối này là thị trường tiêu thụ hàng hóa xuất xứ Việt Nam lớn thứ 4, sau Hoa Kỳ, EU, Trung Quốc với 6 nhóm hàng hóa chính.

bieu2 MJMW

 

Điện thoại các loại và linh kiện: Là nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất sang thị trường ASEAN, tăng 7,8 lần so với năm 2010, đạt tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2010-2016 là 40,9%, với kim ngạch năm 2016 là 2,27 tỷ, tăng 6,3% so với năm 2015, chiếm tỷ trọng 13% trong tổng kim ngạch xuất khẩu sang ASEAN.

Điện thoại các loại và linh kiện chủ yếu được xuất khẩu sang thị trường: Thái Lan là 716 triệu USD, tăng 24,4%; Indonesia là 629 triệu USD, giảm 10,2%; Malaysia là 444 triệu USD, tăng 4,8% so với năm 2015.

Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện: Đạt tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2006-2011 là 2,2%; 2012-2016 là 25,7%. Xuất khẩu nhóm hàng này sang thị trường ASEAN năm 2016 đạt 2,04 tỷ USD, tăng 45,4%, và chiếm tỷ trọng 11,7%.

Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện chủ yếu được xuất sang: Thị trường Malaysia là 858 triệu USD, tăng 88,1% so với năm 2015; Thái Lan đạt 415 triệu USD, tăng 39,3%; Singapore đạt 405 triệu USD, tăng 10,4%...

Máy móc, thiết bị dụng cụ phụ tùng khác: Năm 2016 kim ngạch đạt 1,42 tỷ USD, tăng gấp hơn 2 lần so với năm 2010.

Các thị trường nhập khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng của Việt Nam năm 2016 chủ yếu gồm: Singapore đạt 386 triệu USD, tăng 19,8%; Thái Lan 299 triệu USD, tăng 20,1%; Philippines đạt 221 triệu USD tăng 8,1%; Malaysia đạt 143 triệu USD; tăng 28,1% so với năm 2015...

Dầu thô: Năm 2006 chiếm 42% tổng kim ngạch xuất khẩu với các nước ASEAN. Năm 2010 chiếm 15,2%, đến năm 2016 chỉ còn 2,4% tổng kim ngạch xuất khẩu sang ASEAN.

Xuất khẩu dầu thô sang ASEAN giảm qua các năm, năm 2016 thấp nhất trong 11 năm. Năm 2016: Lượng 1,18 triệu tấn, trị giá đạt 427 triệu USD, thị trường xuất khẩu chủ yếu: Malaysia, Singapore, Thái Lan.

Nhóm hàng nông, thủy sản (hàng thủy sản, chè, gạo, cà phê, cao su, hạt tiêu, hạt điều, sắn và SP sắn): Năm 2016 đạt kim ngạch xuất khẩu sang ASEAN là 1,88 tỷ USD tăng gấp 2,3 lần năm 2005, kim ngạch năm 2012 cao nhất với 3,04 tỷ USD.

ASEAN là một trong 5 thị trường lớn nhất nhập khẩu hàng nông thủy sản của Việt Nam năm 2016 (chiếm 8,9% tỷ trọng hàng nông thủy sản xuất khẩu năm 2016).

Các thị trường tiêu thụ hàng nông thủy sản của Việt Nam bao gồm: Malaysia đạt 462 triệu USD, giảm 25,5% so với năm 2015; Thái Lan đạt 455 triệu USD, tăng 12,5%; Philippines đạt 450 triệu USD, giảm 32,1%...

Hàng dệt may: Đạt kim ngạch xuất khẩu năm 2016 là 706 triệu USD tăng gấp 10 lần năm 2005. Tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2006-2010 là 29,9%; giai đoạn 2011-2015 là 19,2%; năm 2016 tăng 15,3% so với năm 2015.

Thị trường nhập khẩu hàng dệt may của Việt Nam chủ yếu gồm: Campuchia với 244 triệu USD, tăng 19,2% so với năm 2015; Indonesia đạt 114 triệu USD, giảm 13,7%; Malaysia đạt 86 triệu USD, tăng 24%...

 

Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam – ASEAN tăng gấp 7 lần sau 20 năm

Email In PDF

Tổng cục Hải quan cho biết, số liệu thống kê trong những năm gần đây cho thấy ASEAN luôn là đối tác thương mại hàng hóa lớn của Việt Nam. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam – ASEAN tăng gấp 7 lần sau 20 năm Việt Nam trở thành thành viên của khối này.

Trong những năm qua, ASEAN luôn là đối tác thương mại quan trọng của Việt Nam và quan hệ thương mại hàng hóa song phương giữa Việt Nam và ASEAN ngày càng phát triển.
Năm 1996, ASEAN là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam. Sau 20 năm, ASEAN là thị trường tiêu thụ hàng hóa xuất xứ Việt Nam lớn thứ 4, sau Hoa Kỳ, EU, Trung Quốc; hàng hóa nhập khẩu từ ASEAN đứng thứ 3 sau Trung Quốc và Hàn Quốc.

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa giữa Việt Nam và ASEAN năm 2016 đạt 41,49 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 11,8% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước.

bd 982017

Thương mại Việt Nam - ASEAN năm 2016 chủ yếu sang 6 thị trường chiếm 96,4% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường ASEAN. Trong đó:

Thái Lan là thị trường xuất nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam trong ASEAN, thương mại song phương năm 2016 tăng 19 lần so với năm 1996 thời điểm Việt Nam gia nhập ASEAN. Trong năm 2016 thương mại hai chiều Việt Nam - Thái Lan đạt 12,54 tỷ USD, chiếm 30,2% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam và ASEAN.

Thương mại song phương Việt Nam - Malaixia đứng thứ 2 trong ASEAN và năm 2016 tăng gấp 30 lần so với năm 1996. Kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2016 đạt 8,51 tỷ USD, chiếm 20,5% trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam với ASEAN.

Singapore là đối tác thương mại lớn thứ 3 của Việt Nam trong ASEAN, với kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2016 đạt 7,16 tỷ USD, chiếm 17,3% trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam - ASEAN.

Thương mại song phương với thị trường Indonesia năm 2016 đạt 5,61 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 13,5% trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam - ASEAN.

Camphuchia và Philippin, Lào và Myanma là các thị trường đem lại thặng dư thương mại cho Việt Nam. Trong đó, Campuchia là thị trường đem lại thặng dư lớn nhất với hơn 1,47 tỷ USD, thị trường Philipin là 1,16 tỷ USD; Myanma là 375 triệu USD; Lào là 132 triệu USD.

Nguồn: tapchitaichinh.vn

 

Mỹ tăng thuế chống bán phá giá lên tôm nhập từ Việt Nam

Email In PDF

Thông tin từ Bộ Thương Mại Mỹ cho biết, tôm nhập khẩu từ Việt Nam sẽ phải chịu mức thuế 1,42% thay vì 1,16% như trước đây.

Cụ thể, theo tin từ Bộ Công Thương, vừa qua các nhà sản xuất tôm nội địa Hoa Kỳ đã giành được chiến thắng khi Tòa Phúc thẩm liên bang ủng hộ quyết định của Bộ Thương mại Hoa Kỳ trong việc thay đổi cách tính thuế với tôm nhập khẩu từ Việt Nam.

Theo đó, tôm nhập khẩu từ Việt Nam sẽ phải chịu mức thuế 1,42% thay vì 1,16% như trước đây.

Trước đó, do Việt Nam chưa được Hoa Kỳ công nhận là nền kinh tế thị trường, nên Hoa Kỳ phải sử dụng một nước thay thế có nền kinh tế tương tự để tính toán giá tôm nhập khẩu từ Việt Nam. Bộ Thương mại Hoa Kỳ theo đó đã sử dụng Bangladesh làm nước thay thế.

Tuy nhiên, trong năm nay, một nhóm các nhà đánh bắt và nuôi tôm ở Mỹ khiếu nại lên Tòa Thương mại Mỹ rằng tòa này đã dùng mức lương ở Bangladesh quá thấp để so sánh tương đồng với Việt Nam là không phù hợp. Ủy ban đặc biệt về Hành động Thương mại Tôm đã khởi kiện và Tòa đã ra lệnh thẩm định lại quyết định của Bộ Thương mại Hoa Kỳ.

Sau khi xem xét lại, Bộ Thương mại Hoa Kỳ đã chọn cách đánh giá tôm của Việt Nam dựa trên số liệu lương từ Ấn Độ và lưu ý rằng nước đông dân thứ hai trên thế giới này không bị ghi nhận về tình trạng lạm dụng lao động trong ngành tôm như Bangladesh.

Với quyết định này có nghĩa là các nhà nhập khẩu được lựa chọn phải chịu mức thuế chống bán phá giá tôm nhập khẩu cao hơn trong khoảng thời gian 12 tháng bắt đầu từ tháng 2 năm 2013 (đây là đợt rà soát hành chính lần thứ 9). Mức thuế đã tăng từ 1,16% lên 1,42% do Tòa yêu cầu xác định lại mức thuế.

Trong khi đó, xuất khẩu tôm là một phần quan trọng của nền kinh tế Việt Nam. Theo báo cáo của Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (Vasep), doanh thu từ xuất khẩu tôm của Việt Nam là 1,56 tỷ USD trong nửa đầu năm 2017, tăng gần 16% so với năm ngoái.

Vì vậy, ở góc độ doanh nghiệp, ông Trần Văn Lĩnh, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Thương mại Thủy sản Thuận Phước nhận định, việc tăng thuế này sẽ làm giảm tính cạnh tranh của tôm Việt Nam trên thị trường Mỹ.

Theo Vasep, trước đây Hoa Kỳ đã từng là thị trường xuất khẩu hàng đầu của tôm Việt Nam, tuy nhiên, Vasep lưu ý rằng hiện nay Nhật Bản mới là nhà nhập khẩu hàng đầu

Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam cũng dự báo là năm nay Việt Nam có thể xuất khẩu thủy sản ra nước ngoài trị giá 8 tỉ đô la Mỹ. VASEP nêu rõ mức xuất khẩu 8 tỉ đô la Mỹ là không mới, mà Việt Nam đã đạt được mức này lần đầu tiên vào năm 2014, nhưng sau đó bị sụt giảm. Bởi, dù thị trường Mỹ đang gặp khó khăn ở mặt hàng cá tra, do những trở ngại bảo hộ mậu dịch của Mỹ, nhưng đã bù lại được bằng thị trường Trung Quốc. Ngoài ra sự tăng trưởng mạnh của các thị trường Hàn Quốc và Nhật Bản cũng góp phần làm cho Việt Nam tăng trưởng mạnh ngành xuất khẩu thủy sản.

Bên cạnh đó, một yếu tố quan trọng được VASEP đưa ra nữa là các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam được thêm vào nhiều giá trị gia tăng, tức là chế biến và đóng gói hoàn hảo hơn, điều này làm cho sản phẩm của Việt Nam được lên giá.

 

Việt Nam có thể trở thành đối tác thương mại lớn nhất của EU tại ASEAN

Email In PDF

Với cam kết mở cửa thị trường lên tới hơn 99% số dòng thuế và kim ngạch thương mại, thuế suất 0% sẽ được áp dụng cho các mặt hàng xuất khẩu, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-EU (EVFTA) dự kiến có hiệu lực năm 2018 sẽ mang lại nhiều lợi ích và cơ hội cho doanh nghiệp hai bên.

Theo Bộ Công Thương, Hiệp định này có hiệu lực sẽ thúc đẩy luồng vốn đầu tư chất lượng cao của EU vào Việt Nam. Với quy mô và tiềm năng phát triển đầu tư của các nước EU nói chung và việc Cộng đồng kinh tế ASEAN được hình thành từ cuối năm 2015, Việt Nam có cơ hội trở thành địa bàn trung chuyển, kết nối cho hoạt động thương mại và đầu tư của EU trong khu vực. Điều này sẽ mở ra cơ hội cho cả hai bên tiếp cận thị trường của nhau, bảo đảm lợi ích tổng thể, cân bằng; đồng thời đòi hỏi Việt Nam điều chỉnh một số quy định trong nước liên quan.

Thống kê từ Bộ Công Thương, kim ngạch xuất nhập khẩu song phương Việt Nam - EU đạt 45,07 tỷ USD năm 2016 với tốc độ tăng trưởng 8,93% so với 2015. Vì thế, với hơn 500 triệu dân đặc biệt ưa chuộng các mặt hàng mà Việt Nam vốn có thế mạnh như dệt may, da giày, thủy sản, cà phê… EU luôn được đánh giá là thị trường hấp dẫn và đầy tiềm năng của các doanh nghiệp Việt Nam. Đặc biệt, việc thực thi các cam kết mở cửa thị trường có khả năng thúc đẩy kim ngạch hai chiều đạt khoảng 100 tỷ USD/năm.

Không dừng lại ở đó, EU còn là nhà đầu tư lớn nhất ở một số thị trường như Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ hay ngay trong khu vực ASEAN nhưng chưa phải là nhà đầu tư lớn nhất tại Việt Nam. Do vậy, Hiệp định EVFTA có hiệu lực sẽ tạo đường dẫn thu hút dòng vốn đầu tư chất lượng cao của EU vào Việt Nam. Qua đó, các doanh nghiệp Việt Nam cũng có cơ hội phát triển thị trường, tiếp cận công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến nhưng cũng phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt buộc phải tự đổi mới, tự cải thiện năng lực của mình. Chính phủ Việt Nam cũng có động lực để đẩy mạnh cải cách thể chế, hoàn thiện khung khổ pháp lý để đáp ứng kịp với tốc độ và nhu cầu phát triển của nền kinh tế Việt Nam và kinh tế thế giới.

Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh khẳng định: Khi Hiệp định EVFTA được ký kết và dự kiến có hiệu lực trong năm 2018, Việt Nam có thể trở thành đối tác thương mại lớn nhất của EU tại khu vực ASEAN. Ngoài ra, Việt Nam cũng sẽ trở thành điểm đến kinh doanh hứa hẹn nhất tại khu vực Đông Nam Á cho các doanh nghiệp châu Âu. Qua đó, vị thế của Việt Nam cũng sẽ được nâng tầm hơn trong quan hệ thương mại quốc tế cũng như với EU nhằm đáp ứng nhu cầu chính đáng của doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp châu Âu đang kinh doanh tại Việt Nam.

Nguồn: TTXVN

 

Doanh nghiệp ASEAN tiếp tục đầu tư mạnh vào Việt Nam

Email In PDF

Trong 3 năm gần đây, doanh nghiệp ở các nước thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã dịch chuyển đầu tư sang Việt Nam, và xu hướng này sẽ tiếp tục diễn ra mạnh mẽ trong ít nhất 5 năm tới, theo ông Phạm Hồng Hải, Tổng giám đốc Ngân hàng HSBC Việt Nam.

Tại buổi chia sẻ thông tin với báo chí chiều 2-8, trước thềm lễ kỷ niệm ngày thành lập ASEAN dự kiến diễn ra tại Philippines vào ngày 8-8, ông Hải cho biết, bên cạnh việc xem Việt Nam là thị trường tiêu thụ hàng hoá, doanh nghiệp ASEAN cũng đang xem đây như một trung tâm sản xuất.

Ông Hải chia sẻ thông tin rằng 3 năm gần đây HSBC Việt Nam đi đến một số nước ASEAN để quảng bá, kêu gọi đầu tư vào thị trường Việt Nam. Trong đó, khi đến Thái Lan, doanh nghiệp nơi đây cho biết Việt Nam là điểm đến đầu tư ưu tiên hàng đầu của họ.

Xu hướng doanh nghiệp ASEAN và ngoài ASEAN đầu tư vào Việt Nam sẽ diễn ra rất mạnh, ít nhất là trong 5 năm tới, ông Hải nói và cho biết thêm nhiều doanh nghiệp ASEAN cũng đang trông chờ vào việc cổ phần hoá các doanh nghiệp quốc doanh Việt Nam. Doanh nghiệp Việt Nam cũng có thể tận dụng xu hướng này bằng cách cung ứng đầu vào cho doanh nghiệp ASEAN.

Xu hướng đầu tư này có được là nhờ Việt Nam đang có lợi thế lớn là ổn định về chính trị và kinh tế vĩ mô, chi phí nhân công thấp so với nhiều nước, cùng các ưu đãi của Chính phủ,… Ngoài ra, Việt Nam nằm cạnh Trung Quốc (về mặt địa lý) nên các nhà đầu tư có thể tận dụng nguồn cung ứng từ nước này.

Theo ông Winfield W K Wong, Giám đốc khối dịch vụ tài chính doanh nghiệp tại HSBC Việt Nam, doanh nghiệp Thái Lan cũng xem Việt Nam như thị trường tiêu thụ, nên họ đầu tư mạnh vào bán lẻ và hàng tiêu dùng nhanh tại Việt Nam.

Thống kê riêng về đầu tư của các nước ASEAN, theo Cục Đầu tư nước ngoài thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong quí 1-2017, vốn đăng ký cấp mới, tăng thêm và góp vốn mua cổ phần của các nước ASEAN vào Việt Nam là 1,142 tỉ đô la Mỹ, chiếm 14,81% tổng vốn đầu tư của tất cả các đối tác có đầu tư tại Việt Nam trong quí này.

Riêng trong quí 1-2017, có 50 dự án cấp mới từ các nước ASEAN vào Việt Nam, với tổng vốn đầu tư đăng ký 605,1 triệu đô la Mỹ; có 30 lượt dự án điều chỉnh vốn với tổng vốn đầu tư tăng thêm là 367,3 triệu đô la Mỹ. Cũng trong quí đầu năm 2017, có 116 lượt góp vốn, mua cổ phần của các nhà đầu tư đến từ các nước ASEAN, với tổng giá trị vốn góp là 169,66 triệu đô la Mỹ.

Nhìn chung, tính từ trước đây đến ngày 20-3-2017, các nước ASEAN hiện có 3.219 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) còn hiệu lực tại Việt Nam, với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 61,65 tỉ đô la Mỹ.

Các dự án của doanh nghiệp ASEAN vào Việt Nam tập trung chủ yếu vào ngành công nghiệp chế biến chế tạo, chiếm khoảng 50% tổng vốn đầu tư đăng ký. Các nước dẫn đầu về vốn đầu tư từ khu vực ASEAN vào Việt Nam là Singapore, Thái Lan và Brunei.

Nguồn: TBKTSG Online

 

Tất cả lô gỗ xuất đi châu Âu phải có chứng chỉ FLEGT

Email In PDF

Khi Hiệp định về thương mại giữa Việt Nam và EU có hiệu lực đầy đủ, tất cả các lô gỗ xuất khẩu đi EU phải có chứng chỉ FLEGT, nếu không sẽ không được cơ quan chức năng của EU thông quan.

Ngày 11-5 vừa qua, Việt Nam và EU đã ký tắt văn bản hiệp định đối tác tự nguyện và thực thi lâm luật, quản trị rừng và thương mại lâm sản (VPA/FLEGT).

Trao đổi với TBKTSG Online, ông Nguyễn Văn Hà, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Lâm nghiệp, đồng thời là Trưởng đoàn đàm phán kỹ thuật Hiệp định VPA/FLEGT giữa Việt Nam và EU cho hay, theo Hiệp định VPA/FLEGT, gỗ hợp pháp không chỉ là gỗ có nguồn gốc hợp pháp, mà còn bao gồm việc chủ thể thực hiện khai thác, vận chuyển, chế biến, thương mại gỗ phải tuân thủ các quy định của pháp luật về lao động, môi trường, nghĩa vụ thuế…

Trước đây, doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu gỗ sang EU phải có trách nhiệm giải trình về tính hợp pháp của gỗ, nhưng khi Hiệp định VPA/FLEGT có hiệu lực, theo ông Hà, dù doanh nghiệp châu Âu đồng ý mua sản phẩm gỗ của Việt Nam mà không cần giấy phép FLEGT thì cơ quan thẩm quyền của EU cũng sẽ không cho phép lô gỗ hoặc sản phẩm gỗ đó vào EU.

Đối với gỗ và sản phẩm gỗ xuất khẩu đi các thị trường khác ngoài EU hoặc tiêu thụ nội địa thì không cần phải xin cấp phép FLEGT, tuy nhiên, cần phải tuân thủ đầy đủ các quy định của Hệ thống đảm bảo gỗ hợp pháp của Việt Nam (VNTLAS). Điều này nhằm đảm bảo gỗ và các sản phẩm gỗ đều có nguồn gốc hợp pháp, kể cả gỗ nhập khẩu.

Trên thực tế hoạt động của doanh nghiệp khai thác, chế biến, vận chuyển và thương mại gỗ chịu sự điều chỉnh của nhiều luật khác nhau mà doanh nghiệp phải có nghĩa vụ tuân thủ, như luật đất đai, môi trường, quản lý thuế, lao động, bảo vệ và phát triển rừng...

Theo ông Hà, khi chưa có hiệp định nếu doanh nghiệp vi phạm pháp luật liên quan đến ngành luật nào thì bị xử lý theo quy định của ngành luật đó. Tuy nhiên sau khi hiệp định này có hiệu lực, nếu không tuân thủ đầy đủ các quy định thì ngoài việc bị xử phạt, doanh nghiệp còn phải chịu rủi ro khác là lô gỗ hoặc sản phẩm gỗ đó không đảm bảo tính hợp pháp, tức không tuân thủ VNTLAS.

“Khi đó, lô gỗ và sản phẩm gỗ đó sẽ không được phép tiêu thụ”, ông Hà nói.

Ông Nguyễn Tôn Quyền, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam dự đoán hiệp định VPA/FLEGT sẽ thúc đẩy tăng kim ngạch thương mại gỗ giữa hai nước lên 2 tỉ đô la Mỹ/năm so với khoảng 700-800 triệu đô la Mỹ/năm như hiện nay. Theo thống kê, EU tiêu thụ gỗ và sản phẩm gỗ lên tới 90 tỉ đô la Mỹ/năm nên còn rất nhiều dư địa để Việt Nam mở rộng xuất khẩu sang thị trường này.

Nguồn: TBKTSG Online

 

Nhật Bản đầu tư hơn 4.800 triệu USD vào Việt Nam

Email In PDF

Theo Tổng cục Thống kê, trong số 62 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong 7 tháng, Nhật Bản là nhà đầu tư lớn nhất với 4.808,3 triệu USD, chiếm 37,2% tổng vốn đăng ký cấp mới.

Tiếp đến là Singapore với 2.815,7 triệu USD, chiếm 21,8%; Hàn Quốc 1.937,5 triệu USD, chiếm 15%; Trung Quốc 1.221,3 triệu USD, chiếm 9,4%; Đặc khu Hành chính Hồng Công (TQ) 552,1 triệu USD, chiếm 4,3%; CHLB Đức 322,3 triệu USD, chiếm 2,5%.

Bên cạnh đó, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước (NSNN) tháng 7 ước tính đạt 25.679,1 tỷ đồng. Tính chung 7 tháng năm nay, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn NSNN đạt 140,2 nghìn tỷ đồng, bằng 47,2% kế hoạch năm và tăng 7,3% so với cùng kỳ năm 2016.

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn NSNN trong tháng 7 cao hơn tháng trước và cùng kỳ năm trước nhưng nhìn chung tình hình giải ngân và thực hiện nguồn vốn này trong 7 tháng năm nay còn chậm.

Các Bộ, ngành và địa phương cần tiếp tục tập trung thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn, bảo đảm kế hoạch đề ra.

Cũng trong 7 tháng năm 2017 có 2.946 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn là 3,1 tỷ USD. Như vậy, tính chung tổng vốn đăng ký của các dự án cấp mới, cấp vốn bổ sung và đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần 7 tháng đạt 21,9 tỷ USD, tăng 52% so với cùng kỳ năm trước.

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 7 tháng ước tính đạt 9,1 tỷ USD, tăng 5,8% so với cùng kỳ năm 2016.

Trong 7 tháng năm nay, cả nước có 53 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép mới, trong đó Thanh Hóa có số vốn đăng ký lớn nhất với 3.054,5 triệu USD, tiếp đến là Nam Định 2.125,9 triệu USD, Kiên Giang 1.337,8 triệu USD, Bình Dương 1.043,3 triệu USD, TP. Hồ Chí Minh 744,1 triệu USD, Tây Ninh 694,2 triệu USD, Hà Nội 582,4 triệu USD…

Nguồn: daibieunhandan.vn

 

Xuất khẩu sang khối EAEU: DN Việt phải biết ‘bảo ban’ nhau

Email In PDF

"Cơ chế ngưỡng" và quy tắc xuất xứ là những điểm mà doanh nghiệp (DN) Việt Nam cần đặc biệt lưu ý khi Hiệp định thương mại tự do (FTA) Việt Nam-Liên minh Kinh tế Á-Âu (EAEU) có hiệu lực bởi chỉ một sự bất cẩn của một DN đơn lẻ cũng sẽ gây ảnh hưởng đến cả ngành sản xuất.

Nói rõ hơn về “cơ chế ngưỡng”, ông Ngô Chung Khanh, Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách thương mại đa biên (Bộ Công Thương) cho hay, FTA Việt Nam-EAEU có nguyên tắc về cơ chế mức ngưỡng đối với sản phẩm dệt may và đồ gỗ.

Cụ thể, khi đàm phán, phía đối tác đồng ý đưa thuế suất về 0% ngay khi Hiệp định có hiệu lực và không yêu cầu quy tắc xuất xứ chặt từ sợi hoặc từ dệt trở đi như các hiệp định khác. Ví dụ, sản phẩm dệt may của Việt Nam ngay lập tức sẽ được hưởng thuế 0% khi xuất sang EAEU thay vì mức thuế trên 20% khi chưa có Hiệp định này.

Tuy nhiên, phía đối tác lo sợ việc mở thị trường cho dệt may nên đã áp dụng cơ chế mức ngưỡng, tức là nếu giá trị kim ngạch xuất khẩu dệt may sang EAEU tăng gấp 2 lần kim ngạch của 3 năm cộng lại thì họ lập tức khởi động mức ngưỡng. Nếu không kiềm chế thì họ sẽ ngừng ưu đãi và quay trở lại mức thuế cũ.

“DN Việt Nam cần hết sức lưu ý điều này bởi DN Việt làm gì cũng ít khi nhìn nhau, mạnh ai người ấy làm. Nếu cứ “hò” nhau xuất khi đến ngưỡng cảnh báo thì tất cả doanh nghiệp đều thiệt, dẫn tới nguy cơ vỡ đơn hàng, vỡ kế hoạch”, ông Khanh cảnh báo.

Không chỉ đưa ra “cơ chế ngưỡng”, Khối EAEU còn đưa ra nguyên tắc về quy tắc xuất xứ được các chuyên gia nhận định là “còn chặt hơn cả trong TPP” bởi lo sợ DN Việt Nam lợi dụng quy tắc xuất xứ hoặc làm thủ thuật để thay đổi quy tắc xuất xứ.

Theo đó, EAEU chỉ cho phép vận chuyển trực tiếp, không cho phép chia nhỏ lô hàng. Đây sẽ là vấn đề mà các tập đoàn đa quốc gia vướng bởi những tập đoàn này làm theo dây chuyền cung ứng trong khi EAEU yêu cầu vận chuyển trực tiếp (cả công vận chuyển) từ Việt Nam sang Nga thì mới được coi là đáp ứng quy tắc xuất xứ.

Cùng với đó, phía đối tác còn yêu cầu chặt về chứng nhận xuất xứ buộc DN phải lưu ý vấn đề này, nếu không sẽ bị tạm ngừng ưu đãi khi bị phát hiện có gian lận xuất xứ có hệ thống.

Dẫn chứng, ông Ngô Chung Khanh cho biết, một DN khi xuất khẩu sang Nga tự thực hiện chứng nhận xuất xứ nhưng có thể do thông tin chưa đầy đủ, nghiệp vụ chưa tốt, hoặc có sự chủ quan đưa ra chứng nhận xuất xứ không chính xác và bị hải quan Nga phát hiện. Khi đó, phía đối tác sẽ nhắc nhở lần đầu, nhưng nếu họ tiếp tục phát hiện thì DN này lập tức bị ngừng xuất khẩu.

Thế nhưng, nếu tiếp tục có DN cùng ngành bị phát hiện chứng nhận xuất xứ không chính xác thì cả ngành hàng đó sẽ bị cấm xuất khẩu. “Đây là một trở ngại vô cùng lớn đòi hỏi DN có sự phối hợp để bảo đảm lợi ích cho mình”, ông Khanh nói.

Cho đến thời điểm này, Việt Nam đã tham gia 16 hiệp định thương mại tự do, trong đó có 10 hiệp định đã ký và có hiệu lực. FTA có hiệu lực gần đây nhất là FTA Việt Nam-EAEU có hiệu lực từ ngày 5/10/2016. Hiệp định này được đánh giá có giá trị rất lớn với nền kinh tế bởi tổng dân số của khối liên minh này là gần 200 triệu người, giá trị tổng sản phẩm - GDP hơn 2.200 tỷ USD.

Nguồn: baochinhphu.vn

 

Mở ra cơ hội xuất khẩu tôm tươi nguyên con và thanh long vào Australia

Email In PDF

Quyền Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Tài nguyên nước Australia đã bày tỏ ủng hộ đề xuất tạo thuận lợi cho Việt Nam sớm xuất khẩu tôm tươi nguyên con và trái thanh long vào thị trường này.

HueNgày 25/7, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ đã hội đàm với Quyền Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Tài nguyên nước Australia Barnaby Joyce; làm việc với Bộ trưởng Bộ Thương mại Steven Ciobo bàn về kế hoạch hợp tác, đầu tư giữa hai quốc gia trong thời gian tới.

Quyền Thủ tướng Australia, ông Barnaby Joyce đánh giá cao Việt Nam với tư cách là một quốc gia đang phát triển năng động và có vai trò tích cực ở khu vực Đông Nam Á, khẳng định dành ưu tiên cao cho quan hệ với Việt Nam và mong muốn thúc đẩy quan hệ hai nước lên tầm cao mới.

Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ và Quyền Thủ tướng Australia Banarby Joyce cùng các Bộ trưởng khẳng định quyết tâm thúc đẩy hợp tác kinh tế-thương mại-đầu tư sâu rộng hơn nữa, nâng cao kim ngạch thương mại hai chiều (hiện đang đạt khoảng hơn 5 tỷ USD/năm), tăng cường đầu tư vào các lĩnh vực hai bên có lợi thế bổ sung cho nhau như nông nghiệp, giáo dục, hạ tầng cơ sở, công nghệ sáng tạo...; nhất trí giao các bộ, ngành liên quan của hai nước xây dựng các nội dung cụ thể để thiết lập cơ chế đối thoại ở cấp Bộ trưởng trong lĩnh vực kinh tế-thương mại, hướng tới việc hình thành quan hệ Đối tác Kinh tế trong thời gian tới.

Hai bên cũng nhất trí tham vấn và trao đổi thông tin nhằm từng bước dỡ bỏ rào cản thương mại đối với các sản phẩm nông sản, thủy sản; thúc đẩy liên doanh, liên kết, hình thành chuỗi sản xuất-cung ứng, tạo ra giá trị gia tăng cao đối với các sản phẩm nông nghiệp, qua đó góp phần vào việc nâng cao thu nhập và đời sống của nông dân hai nước.

Quyền Thủ tướng Banarby Joyce và Bộ trưởng Thương mại Steven Ciobo khẳng định, Australia sẽ hợp tác chặt chẽ với các đối tác Việt Nam để hỗ trợ các mặt hàng trái cây nhiệt đới, tôm nguyên liệu không qua chế biến đáp ứng điều kiện nhập khẩu vào Australia.

Trên thực tế, tôm là sản phẩm xuất khẩu quan trọng của Việt Nam sang thị trường Australia. Năm 2015, kim ngạch xuất khẩu tôm (qua chế biến) chiếm khoảng 32,2% thị phần nhập khẩu tôm của Australia, là nguồn cung cấp tôm lớn nhất cho thị trường này. Tuy nhiên, mặt hàng tôm nguyên liệu chưa qua chế biến làm gia tăng giá trị cho doanh nghiệp Việt Nam chưa được phía bạn cấp phép nhập khẩu.

Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Trần Thanh Nam đánh giá, việc Australia khẳng định hỗ trợ tôm tươi nguyên con, các sản phẩm tôm qua chế biến đáp ứng điều kiện nhập khẩu vào Australia sẽ có ý nghĩa rất lớn đối với hoạt động của các doanh nghiệp nuôi, chế biến tôm xuất khẩu và bà con nông dân Việt Nam.

Với trái cây, Quyền Thủ tướng Australia và Bộ trưởng Bộ Thương mại cũng đồng tình với đề nghị của Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ hỗ trợ trái thanh long của Việt Nam đủ điều kiện nhập khẩu vào Australia trong năm 2017. Nếu được cấp phép, Việt Nam sẽ là nước đầu tiên và duy nhất cho tới thời điểm hiện nay được cấp phép nhập khẩu thanh long vào thị trường Australia.

Ngoài ra, phía Australia cũng bày tỏ quan tâm hỗ trợ Việt Nam xuất khẩu nhãn, vú sữa, chôm chôm và chanh dây trong thời gian tới.

ại các cuộc làm việc, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ và Quyền Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Thương mại Australia đều nhấn mạnh sự cần thiết của việc thúc đẩy các mối liên kết kinh tế, thương mại ở khu vực thông qua các Hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương; nhất trí tăng cường hợp tác với các nước nhằm tìm hướng đi phù hợp cho Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), thúc đẩy sớm hoàn tất Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP).

Australia đánh giá cao vai trò chủ nhà của Việt Nam trong Năm APEC 2017; khẳng định sẽ phối hợp chặt chẽ để Việt Nam tổ chức thành công Tuần lễ Cấp cao APEC 2017 tại Việt Nam.

Thay mặt các lãnh đạo Việt Nam, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ hoan nghênh Thủ tướng Australia Malcolm Turnbull đã nhận lời mời tham dự Tuần lễ Cấp cao APEC.

Nguồn: baochinhphu.vn

 

FDI "đổ" vào Việt Nam tăng 52% so với cùng kỳ

Email In PDF

Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cho biết, tính chung trong 7 tháng đầu năm 2017, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký cấp mới, tăng thêm và góp vốn mua cổ phần là 21,93 tỷ USD, tăng 52% so với cùng kỳ năm 2016.

Theo Cục Đầu tư nước ngoài, trong 7 tháng đầu năm 2017 nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 18 ngành lĩnh vực, trong đó lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo là lĩnh vực thu hút được nhiều sự quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài với tổng số vốn là 10,83 tỷ USD, chiếm 49,4% tổng vốn đầu tư đăng ký trong 7 tháng đầu năm.

Lĩnh vực sản xuất, phân phối điện đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư là 5,25 tỷ USD, chiếm 23,98% tổng vốn đầu tư. Đứng thứ 3 là lĩnh vực khai khoáng với tổng vốn đầu tư đăng ký là 1,28 tỷ USD, chiếm 5,86% tổng vốn đầu tư đăng ký.

Về đối tác đầu tư, trong 7 tháng đầu năm 2017 có 98 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam. Hàn Quốc đứng vị trí thứ nhất với tổng vốn đầu tư là 5,62 tỷ USD, chiếm 25,63% tổng vốn đầu tư; Nhật Bản đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư đăng ký là 5,46 tỷ USD, chiếm 24,92% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam; Singapore đứng vị trí thứ 3 với tổng vốn đầu tư đăng ký là 3,8 tỷ USD, chiếm 17,3% tổng vốn đầu tư.

Về địa bàn đầu tư, nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 60 tỉnh thành phố, trong đó với dự án điện hơn 2,7 tỷ USD, Thanh Hoá là địa phương thu hút nhiều vốn FDI nhất với tổng số vốn đăng ký là 3,06 tỷ USD, chiếm 13.9% tổng vốn đầu tư. Bắc Ninh đứng thứ 2 với tổng vốn đăng ký là 2,95 tỷ USD, chiếm 13,48% tổng vốn đầu tư. Nam Định đứng thứ 3 với tổng số vốn đăng ký 2,2 tỷ USD chiếm 10% tổng vốn đầu tư.

Cục Đầu tư nước ngoài cũng cho biết, tính đến ngày 20/7/2017, cả nước có 1.378 dự án mới được cấp Giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký là 12,92 tỷ USD, tăng 48,7% so với cùng kỳ năm 2016;.

Trong đó, có 677 lượt dự án đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 5,87 tỷ USD, tăng 38,5% so với cùng kỳ năm 2016 và 2.946 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn là 3,12 tỷ USD, tăng 109,7% so với cùng kỳ 2016.

Nguồn: tapchitaichinh.vn

 

Doanh nghiệp Việt vẫn đuối trong ASEAN

Email In PDF

Được đánh giá là tiềm năng nhưng hiện nay, nhiều doanh nghiệp Việt vẫn khó thâm nhập thị trường ASEAN.

Mơ hồ về AEC

Nhận định thị trường các nước ASEAN rất tiềm năng, đặc biệt khi Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) đã hình thành, tuy nhiên, bà Nguyễn Thị Chính, Giám đốc Công ty TNHH Nấm Linh Chi chia sẻ, để có được đối tác xuất khẩu sang những thị trường này còn nhiều vướng mắc, khó khăn từ chất lượng, mẫu mã cho tới các rào cản thủ tục hải quan. Hiện các sản phẩm của công ty này chưa vào được thị trường ASEAN.

"Nhiều nước trong ASEAN không có nhu cầu với sản phẩm của chúng tôi vì họ tự sản xuất được. Chưa kể để tận dụng cơ hội từ ASEAN, các DN cần lên kế hoạch sản xuất, kinh doanh với kinh phí khá lớn", bà Chính nói.

Ông Nguyễn Phi Thanh, Giám đốc CTCP thương mại Thanh Lộc (chuyên sản xuất và xuất khẩu hàng nông sản) chia sẻ, sở dĩ hàng hóa của Việt Nam xuất khẩu vào thị trường ASEAN còn rất hạn chế, một phần từ bất cập cơ chế chính sách.

Trên thực tế, 3 năm nay, DN này đã xuất khẩu được các mặt hàng là bún, phở khô, miến rong, bánh đa nem... sang các thị trường khó tính như thị trường Đức, Pháp... nhưng với thị trường ASEAN thì chưa tiếp cận được.

Công ty Thanh Lộc mong muốn Chính phủ hướng dẫn "đường đi nước bước" để các mặt hàng của DN dễ tiếp cận thị trường ASEAN. “Chúng tôi chưa vào được là vì chưa có động lực và điều kiện để vào và do thiếu thông tin thị trường. Bởi vậy, chúng tôi mong muốn Chính phủ và các cơ quan chức năng phổ biến những chính sách, hướng dẫn DN tiếp cận được các đối tác trong ASEAN”, ông Thanh kiến nghị.

Tuy nhiên, cần phải nhìn nhận thẳng thắn, nguyên nhân khiến nhiều DN chưa tận dụng được thị trường AEC là vì chưa hiểu biết rõ thị trường này. AEC đã phát huy vai trò kiến tạo môi trường, tăng cường cơ hội để các DN có thể tham gia sâu rộng hơn vào thị trường ASEAN, trong đó có DN Việt Nam.

Sau hơn 1 năm, nhiều DN Việt vẫn chưa được biết đến một cách đầy đủ, thấu đáo, mặc dù đang phải đối mặt với những thách thức khi tham gia AEC, trong đó nổi lên áp lực cạnh tranh từ các nước ASEAN cả trong sản xuất, kinh doanh và cung cấp dịch vụ. Ở Việt Nam, đa số DN có sự quan tâm và tìm hiểu về AEC, thế nhưng một số khảo sát cho thấy chỉ có khoảng 16% DN thực sự hiểu về AEC.

Doanh nghiệp phải chủ động

Ông Nguyễn Quốc Dũng, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao đánh giá, để tận dụng tốt cơ hội và vượt qua thách thức, hơn ai hết DN phải là người hiểu rõ thị trường này. Câu chuyện về AEC đem lại những gì cho DN? Những thách thức nào chờ đợi phía trước, khó khăn nào cần giải quyết và vượt qua?

"Hiện nay, nhiều câu hỏi của DN chúng ta vẫn chưa có câu trả lời. Trong khi đó, so với các DN của các bạn trong khối ASEAN, rất nhiều DN Việt Nam đi sau, tiềm lực hạn chế, kinh nghiệm cũng ít hơn... khiến cơ hội bị vuột mất", Thứ trưởng đánh giá.

Đồng thời, ông Nguyễn Quốc Khánh, Giám đốc điều hành Nghiên cứu và Phát triển Sản phẩm CTCP Sữa Việt Nam (Vinamilk) cho rằng, bên cạnh sự hỗ trợ của nhà nước, các DN cũng cần thể hiện sự chủ động của mình. Bởi thực tế hiện nay, hàng hóa của DN Việt Nam không chỉ cạnh tranh với DN trong nước, mà còn cạnh tranh với DN trong ASEAN, DN trên thế giới.

DN phải tự nhận thức được sự sống còn của mình để vượt qua được khó khăn, không tự chủ động thì cơ hội sẽ qua đi. Điều đó có nghĩa, DN muốn tồn tại và phát triển, cần đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường về chất lượng, giá cả… và định hướng cho người tiêu dùng hướng tới sản phẩm của mình.

Theo ông Lê Lương Minh, Tổng Thư ký ASEAN, để tận dụng các cơ hội, bản thân các DN cần hiểu biết hơn về cộng đồng ASEAN, hiểu hơn về những cơ hội và thách thức. Đơn cử như trong lĩnh vực lao động, ASEAN có các hiệp định mở ra cho 8 đối tượng được tự do tìm kiếm việc làm trong khối.

Nhưng để có thể tìm được việc làm thì người lao động lành nghề phải có tiếng Anh. Do vậy, các DN Việt Nam cần phải nhận biết đầy đủ về các thị trường ASEAN và các thị trường đối tác, để từ đó đào tạo, xây dựng các cơ chế, quy chuẩn phù hợp với từng thị trường.

Cùng với đó, các DN rất cần sự giúp đỡ của hiệp hội nghề nghiệp trong việc xây dựng quy định, quy chuẩn, góp phần làm cho hoạt động kinh doanh của DN hiệu quả, hướng tới phát triển bền vững, và có thông tin về thị trường ASEAN. Nhất là khi hiện nay, DN phải đối mặt với nhiều thách thức khi xuất phát điểm thấp, năng lực cạnh tranh còn yếu kém.

Nguồn: tapchitaichinh.vn

 

Hai FTA lớn tiếp tục được bàn thảo

Email In PDF

Đó là Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) - 2 hiệp định thương mại tự do (FTA) lớn tiếp tục được các nước liên quan thương thảo.

Ngày 18/7 tại cuộc gặp ở Tokyo, các Bộ trưởng chuyên trách về Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) của Nhật Bản và Mexico khẳng định hai bên sẽ phối hợp chặt chẽ để Hiệp định này được thực thi.

Quan chức của hai nước nhấn mạnh đều mong muốn thúc đẩy thảo luận một cách nhanh chóng.

Trước đó, các nhà đàm phán về TPP của 11 nước đã họp tại Nhật Bản hôm 12/7.

Ở cuộc đàm phán này, đại diện thương mại Nhật Bản bày tỏ quan điểm muốn giữ nguyên những thỏa thuận đã đạt được, đồng thời từ chối đàm phán lại hàng rào thuế quan áp cho các nước thành viên. Trong khi đó, Australia và New Zealand cho rằng cần xem xét lại một số nội dung thỏa thuận để phù hợp với tình hình mới. Một số ý kiến lại cho rằng các cuộc thảo luận có khả năng sẽ dẫn tới bế tắc do có liên quan tới tình hình nội bộ của mỗi nước thành viên khi TPP không có Mỹ.

Sau cuộc họp nói trên, các Trưởng đoàn đàm phán TPP dự kiến sẽ gặp nhau vào tháng 9 và sau đó các nhà lãnh đạo 11 nước tham gia TPP sẽ gặp nhau tại Việt Nam trong dịp APEC vào tháng 11 tới.

Sau khi Mỹ rút khỏi TPP, Nhật Bản hiện là nền kinh tế lớn nhất trong số 11 nước còn lại. Vì vậy, Nhật Bản hy vọng đạt một sự đồng thuận giữa các nước đàm phán TPP về cách thức duy trì sự tồn tại của hiệp định, nhấn mạnh TPP là kết quả của nhiều năm đàm phán trước khi ký kết vào tháng 2/2016.

* Trong một diễn biến khác từ ngày 18/7, quan chức thương mại của 16 quốc gia khu vực châu Á - Thái Bình Dương, gồm 10 nước ASEAN và các đối tác của ASEAN gồm: Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Australia và New Zealand đang ở Hyderabad (miền Nam Ấn Độ) để thảo luận về Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP).

Các nước bắt đầu đàm phán RCEP từ tháng 5/2013. Hiệp định này từng được kỳ vọng sẽ được ký kết trước năm 2015, hướng tới mục tiêu hình thành Hiệp định Thương mại tự do Đông Á (EAFTA) và khởi đầu cho Đối tác kinh tế toàn diện Đông Á (CEPEA). Tuy nhiên mốc thời gian kỳ vọng đã bị bỏ qua. Hiện nay, RCEP vẫn đang trong quá trình đàm phán và vòng đàm phán gần đây nhất diễn ra ở Indonesia vào tháng 12/2016.

Hãng tin NHK (Nhật Bản) dẫn thông tin liên quan cho hay các cuộc thảo luận trước đây bộc lộ sự chia rẽ về thuế quan đối với hàng hóa công nghiệp.

Theo đó, Nhật Bản và Australia muốn dỡ bỏ thuế quan đối với nhiều mặt hàng hơn, trong khi Trung Quốc và Ấn Độ lại muốn hạn chế số lượng mặt hàng.

Trong lĩnh vực tác quyền, Nhật Bản cũng đang tìm kiếm các điều luật nghiêm khắc hơn đối với các sản phẩm vi phạm sở hữu trí tuệ còn Trung Quốc vẫn tỏ ra thận trọng.

Một vài nhà phân tích nói các nước Đông Nam Á muốn đạt được tiến triển trong cuộc họp lần này để hoàn tất các cuộc đàm phán tại Hội nghị cấp cao ASEAN diễn ra vào tháng 11 tới.

Nguồn: baochinhphu.vn

 

Tương lai gập ghềnh của một TPP không có Mỹ

Email In PDF

1 nước còn lại trong tổng số 12 nước ban đầu tham gia đàm phán Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã quyết định tiếp tục đàm phán mà không có Mỹ nhưng sự thiếu vắng của nền kinh tế số một thế giới này đã khiến tương lai của hiệp định trở nên gập ghềnh hơn.

Đàm phán thỏa thuận mới về TPP

Hãng tin Kyodo cho biết hôm 14-7, trưởng đoàn đàm phán của 11 nước còn lại trong TPP nhất trí hướng đến mục tiêu đưa hiệp định này có hiệu lực theo một khung thỏa thuận mới sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump ký sắc lệnh rút Mỹ khỏi TPP vào hồi đầu năm.

TPP ban đầu được kí bởi 12 nước gồm Úc, Brunei, Canada, Chile, Nhật, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Mỹ và Việt Nam, chiếm khoảng 40% GDP nền kinh tế toàn cầu.

“TPP ban đầu được ký với 12 thành viên, vậy nên, để hiệp định có hiệu lực với 11 nước còn lại, chúng tôi cần một thỏa thuận quốc tế mới”, ông Kazuyoshi Umemoto, trưởng đoàn đàm phán TPP của Nhật nói với các phóng viên sau khi chủ trì hai cuộc họp kéo dài hai ngày thảo luận về tương lai TPP ở khu nghỉ dưỡng Hakone ở Tokyo.

“Giờ đây, chúng tôi đã có hình dung sơ bộ về cách thỏa thuận mới sẽ được định hình như thế nào”, Umemoto khẳng định.

Tuy nhiên, vẫn chưa rõ các đàm phán sắp tới có diễn ra suôn sẻ hay không khi mà 11 nước còn lại vẫn chia rẽ về nhiều vấn đề, chẳng hạn như phải sửa đổi văn bản gốc của hiệp định TPP ban đầu ở mức độ nào.

Umemoto cho biết các trưởng đoàn đàm phán mới chỉ nhất trí không hạ thấp các quy tắc thương mại có tiêu chuẩn cao trong hiệp định TPP ban đầu. Ông nói 11 nước còn lại cần phải quyết định hình thức của thỏa thuận mới là "hiệp định" hay "nghị định thư". Các nước cũng phải thảo luận về việc có nên sửa đổi các quy tắc về thương mại và đầu tư trong hiệp định gốc TPP hay không.

Một nguồn tin chính phủ Nhật cho biết các quan chức cấp sự vụ của 11 nước sẽ khởi động thảo luận nội dung chính của thỏa thuận mới dựa trên các chỉ đạo của các trưởng đoàn đàm phán.

Vào cuối tháng 8 hoặc đầu tháng 9 tới, các trưởng đoàn đàm phán sẽ gặp nhau tại Úc để thúc đẩy đàm phán về việc ký kết thỏa thuận này trước tháng 11-2017 khi các lãnh đạo của họ dự hội nghị cấp cao của Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) ở Việt Nam.

Giữ nguyên hay sửa đổi TPP ban đầu?

Sau cuộc gặp của bộ trưởng thương mại của 11 nước còn lại trong TPP ở Hà Nội vào tháng 5-2017, các nhà đàm phán được giao nhiệm vụ vạch ra các phương án đưa TPP có hiệu lực vào thời gian sớm nhất.

Một vấn đề nan giải cần phải giải quyết là TPP ban đầu có một điều khoản nói rằng hiệp định này chỉ có hiệu lực sau khi được sáu nước chiếm ít nhất 85% GDP của 12 nước tham gia TPP ban đầu phê chuẩn. Hiện tại, mới chỉ có Nhật và New Zealand phê chuẩn TPP. Vì chỉ nước Mỹ đã chiếm 60% tổng GDP của các thành viên ban đầu, vì vậy, TPP không thể có hiệu lực theo các điều khoản hiện tại.

Nhật, nền kinh tế lớn nhất trong số 11 nước còn lại của TPP, hy vọng sẽ đạt được thỏa thuận thay đổi các điều kiện để đưa TPP có hiệu lực mà không cần phải xem xét lại phần lớn nội dung ban đầu của TPP vì thực tế, các nước đã mất nhiều năm đàm phán mới tiến đến lễ ký kết TPP vào tháng 2-2016.

Song một số nước có thể kêu gọi đàm phán lại nhiều nội dung, bao gồm các quy định về thuế quan, thương mại và đầu tư khi Mỹ không còn tham gia TPP.

Việt Nam và Malaysia đã nhất trí nới lỏng một số quy định về đầu tư nước ngoài và mở cửa thị trường trong nước để đổi lấy sự tiếp cận thị trường Mỹ rộng mở hơn nhưng giờ đây hai nước này được cho là cân nhắc lại sự nhất trí này khi thỏa thuận mới thiếu vắng Mỹ.

Nhật cùng với New Zealand và Úc là ba nước hăng hái thúc đẩy các nỗ lực thực hiện sớm TPP dù không có Mỹ. Triển vọng TPP trở nên u ám kể từ khi Tổng thống Donald Trump tuyên bố rút Mỹ khỏi hiệp định này hồi tháng 1-2017 vì cho rằng TPP gây tổn thương cho việc làm của người Mỹ. Tổng thống Trump nói ông muốn đàm phán hiệp định song phương với từng nước trong TPP hơn.

Tuyên bố của Trump gây ra một tổn thất lớn cho Nhật, nước vốn xem TPP có ý nghĩa chiến lược quan trọng để kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc trong khu vực.

Hy vọng Mỹ quay trở lại

Tờ New York Times dẫn lời Tomohiko Taniguchi, cố vấn chính sách đối ngoại của Thủ tướng Nhật Shinzo Abe nói: “Dĩ nhiên, Nhật hy vọng giữ lại nội dung chi tiết ban đầu của thỏa thuận TPP”. Dù tỏ ra lạc quan Nhật có thể dẫn dắt các nước còn lại đạt được sự đồng thuận mới về TPP nhưng Taniguchi cũng thừa nhận các cuộc đàm phán sắp tới sẽ rất khó khăn. “Một khi được khởi động, các cuộc đàm phán có thể đi theo nhiều hướng khác nhau”, ông nói.

Chẳng hạn, thỏa thuận ban đầu đòi hỏi các nước thành viên đang phát triển phải cải thiện sự minh bạch của các công ty nhà nước, cho phép các hãng dược phẩm của các nền kinh tế lớn mở rộng bảo vệ bản quyền đối với nhiều loại dược phẩm mà các nước nhỏ hơn muốn sản xuất. Một số nước thành viên đang phát triển có thể cho rằng các đòi hỏi như vậy là quá lớn khi mà họ không còn cơ hội dễ dàng tiếp cận thị trường Mỹ.

“Vấn đề là Mỹ chiếm đến gần 2/3 GDP của các nền kinh tế trong TPP và nếu Mỹ rút lui, liệu thỏa thuận này còn ý nghĩa nữa không?”, Jeffrey Wilson, một học giả ở Đại học Tây Úc, nói.

Nhật muốn giữ lại hầu hết nội dung của TPP ban đầu với hy vọng rằng Mỹ có thể thay đổi quyết định và tái gia nhập TPP. “Chúng ta nên hoan nghênh Mỹ nếu Mỹ quyết định quay trở lại TPP vào lúc nào đó trong tương lai”, Ichiro Fujisaki, cựu đại sứ Nhật tại Mỹ, nói.

Tuy nhiên, một số nhà quan sát nhìn nhận các hy vọng như vậy là quá ngây thơ.

“Chừng nào Donald Trump còn làm tổng thống Mỹ, tôi không cho rằng ông ấy thay đổi quyết định về TPP”, Takuji Okubo, nhà kinh tế trưởng từ công ty tư vấn Japan Macro Advisors ở Tokyo, nhận định.

Các nhà quan sát khác cho rằng Trump có thể thay đổi quyết định một khi ông thấy rằng việc đàm phán hiệp định thương mại song phương với từng nước trong TPP khó khăn hơn ông nghĩ. Trong trường hợp như vậy, các nhà quan sát nói rằng 11 nước còn lại không nên sửa đổi TPP.

“Nếu họ tìm cách tái đàm phán các quy định hoặc hạ thấp các tiêu chuẩn, điều này sẽ khiến Mỹ khó tái gia nhập TPP trong tương lai”, Bruce Andrews, cựu Thứ trưởng Bộ Thương mại Mỹ dưới thời Tổng thống Obama và hiện nay là giám đốc ở công ty tư vấn Rock Creek Global Advisors (Mỹ), nói.

Theo Andrews, một lý do nữa để 11 nước còn lại giữ nguyên các quy tắc thương mại nghiêm ngặt trong TPP ban đầu là nhằm thúc ép buộc Trung Quốc cải cách.

“Nếu TPP có hiệu lực, cuối cùng, Trung Quốc có thể sẽ muốn gia nhập để được hưởng lợi. Để gia nhập, Trung Quốc phải tiến hành một số cải cách kinh tế quan trọng và mở cửa thị trường trong nước”, Andrews nói.

Nhật muốn thỏa thuận mới về TPP giữa 11 nước còn lại sẽ được ký kết vào tháng 11 trước thềm hội nghị cấp cao APEC được tổ chức ở Việt Nam. Song hầu hết các nhà phân tích đều cho rằng thỏa thuận mới khó hoàn tất trước thời hạn đó. Tuy vậy, theo giáo sư Shumpei Takemori ở Đại học Keio (Nhật), việc tái đàm phán TPP cho phép Nhật và các đồng minh khác chứng tỏ với Mỹ rằng: “chúng tôi có sự lựa chọn khác” dù Mỹ rút khỏi TPP.

Nguồn: TBKTSG Online

 

Vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam

Email In PDF

Trong những năm qua, vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả tích cực với số dự án và vốn đăng ký năm sau luôn cao hơn năm trước. Điều này cho thấy, doanh nghiệp Việt Nam không chỉ tập trung đầu tư ở trong nước mà còn mở rộng đầu tư ra nước ngoài để khẳng định thương hiệu, vị thế của mình trên trường quốc tế, nhất là trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay.

Vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp (DN) Việt Nam trải qua các giai đoạn thăng trầm, bắt đầu manh nha những dự án đầu tiên từ những năm 1989, sau đó tăng trưởng mạnh về số dự án và vốn đăng ký từ khi Chính phủ ban hành Nghị định 78/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 quy định về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Cụ thể:

Đến nay, hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của DN Việt Nam đã phủ rộng ở cả 3 lĩnh vực là công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ. Trong đó, vốn đăng ký chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp chiếm gần 55%; lĩnh vực nông nghiệp chiếm khoảng 25%; lĩnh vực dịch vụ chiếm khoảng 20%. Cụ thể:

- Lĩnh vực công nghiệp: Tính lũy kế đến cuối năm 2016, các DN Việt Nam đã đầu tư vào nhiều ngành nghề khác nhau trong lĩnh vực công nghiệp, nổi bật nhất là ngành Khai khoáng luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất với hơn 160 dự án và vốn đăng ký lên đến 8,5 tỷ USD, vốn thực hiện trên 3 tỷ USD. Như Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) là DN đi đầu trong hoạt động đầu tư vốn trực tiếp ra nước ngoài. Thống kê cho thấy, PVN đã đăng ký 17 dự án đầu tư vốn với trữ lượng thăm dò khoảng 170 triệu tấn quy đổi.

- Lĩnh vực nông nghiệp: Hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài được mở rộng về số lượng và quy mô dự dự án. Đến cuối năm 2016, vốn thực hiện của DN đầu tư trong lĩnh vực này đạt gần 750 triệu USD. Các dự án đầu tư vốn ra nước ngoài tập trung vào ngành Nông - lâm nghiệp, còn ngành Thủy sản và ngư nghiệp chưa được quan tâm nhiều. Đáng chú ý, có các dự án trồng cây cao su hay cây công nghiệp tại Lào của Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai.

- Lĩnh vực dịch vụ: Hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài vào lĩnh vực này đa dạng, phong phú nhiều ngành nghề như: Thông tin truyền thông, y tế, giáo dục đào tạo, tài chính ngân hàng, bất động sản, kho bãi, giao thông vận tải, giải trí, nghệ thuật… Đáng chú ý nhất trong lĩnh vực này phải kể đến ngành Thông tin truyền thông với số vốn thực hiện trên 500 triệu USD. Điểm sáng về thực hiện hoạt động đầu tư vốn trực tiếp ra nước ngoài trong lĩnh vực này là Tập đoàn Viễn thông Quân đội Viettel (đã đầu tư và kinh doanh tại 9 quốc gia ở 3 châu lục; Tổng doanh thu từ đầu tư nước ngoài lũy kế đến năm 2016 là 6,5 tỷ USD, riêng năm 2016 đạt 1,4 tỷ USD)…

231372017 esvz

Được biết, để tạo điều kiện cho các DN đầu tư ra nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã đưa ra định hướng cụ thể như: Ưu tiên các dự án phát huy tiềm năng từ bên ngoài phục vụ cho mục tiêu phát triển của đất nước. Cụ thể là tiếp tục khai thác và phát huy thế mạnh của các thành phần kinh tế Việt Nam trong đầu tư vào các thị trường truyền thống như Lào, Campuchia, các nước trong khu vực Liên bang Nga...; Từng bước mở rộng đầu tư sang các nước và thị trường mới như Mỹ La tinh, Đông Âu, châu Phi dựa trên cơ sở lợi thế so sánh và thực lực của các thành phần kinh tế Việt Nam.
Với chính sách và định hướng trên, hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các DN Việt Nam đã phát triển rộng khắp trên 70 quốc gia và vùng lãnh thổ. Trong đó, Lào đứng thứ nhất trong tổng số 70 quốc gia DN Việt Nam triển khai đầu tư ra nước ngoài với tổng vốn đăng ký là trên 5 tỷ USD. Vốn giải ngân của Việt Nam sang Lào đạt khoảng 1,5 tỷ USD, chủ yếu tập trung vào lĩnh vực khoáng sản, năng lượng, nông nghiệp…

Bên cạnh việc đẩy mạnh và duy trì hoạt động kinh doanh tại các địa bàn truyền thống như Lào, Campuchia, Nga và Angieri, các DN Việt Nam đã khai phá thành công một số thị trường mới có mức độ cạnh tranh và yêu cầu cao về công nghệ như Mỹ, Nhật Bản, Hồng Kông, Đài Loan, hay một số nước ở Mỹ Latinh như Venezuela, Cuba, Peru, châu Phi và Trung Đông (Mozambique, Iran, Iraq…).

Có thể nói trong những năm qua, tình hình đầu tư vốn trực tiếp ra nước ngoài của các DN Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận.

Số dự án và địa bàn đầu tư đã có sự tăng trưởng nhanh. Từ 18 dự án trước khi ban hành Nghị định 78/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 quy định về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, thì đến tháng 1/2017 đã có 1.188 dự án đầu tư ra nước ngoài của các DN Việt Nam, với tổng số vốn đăng ký là gần 21,4 tỷ USD tại 70 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Các DN Việt Nam đã hoạt động kinh doanh có hiệu quả và dần khẳng định được tên tuổi trên thị trường nước ngoài. Hiện đã có 6 tập đoàn, tổng công ty của Việt Nam có vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài vượt ngưỡng 1 tỷ USD gồm: PVN, Viettel, Tập đoàn Công nghiệp Cao Su Việt Nam; Tổng công ty Sông Đà; Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai...

Bên cạnh những kết quả đạt được, tình hình đầu tư vốn trực tiếp ra nước ngoài của các DN Việt Nam còn gặp phải một số hạn chế như: Số dự án vẫn còn ít, vốn đầu tư thực hiện thấp và các dự án triển khai khá chậm; Vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các DN Việt Nam không đều đặn qua các năm; Chất lượng hoạt động của các vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của DN Việt Nam cũng có những hạn chế...

Để thúc đẩy vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các DN Việt Nam, trong thời gian tới, cần chú trọng tập trung triển khai những nội dung sau:

Thứ nhất, tăng cường mở rộng hợp tác quốc tế và tích cực tham gia vào các tổ chức quốc tế thông qua đàm phán, ký kết các hiệp định đầu tư song phương, đa phương nhằm bảo vệ các DN, gỡ bỏ các rào cản khi đầu tư trực tiếp ra nước ngoài; Tạo cơ chế pháp lý ổn định để giải quyết các tranh chấp có thể phát sinh.

Thứ hai, đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư, tăng cường công tác hỗ trợ, tư vấn và cung cấp thông tin hữu tích về hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài cho các DN.

Thứ ba, nâng cao năng lực cạnh tranh của các DN Việt Nam. Các DN xây dựng chiến lược kinh doanh, chiến lược sản phẩm, thương hiệu để từng bước nâng cao năng lực quản trị. Cùng với đó, các DN cũng cần nghiên cứu phát triển sản phẩm mới, đổi mới công nghệ, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến.

Tài liệu tham khảo:

1. Báo cáo vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào Việt Nam từ 1989 đến 2016 (Cục Đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư);

2. Chính phủ: Nghị định 18/2016/NĐ- CP;

3. Các trang điện tử: chinhphu.vn, tapchitaichinh.vn.

Nguồn: tapchitaichinh.vn

 

Đông Nam Á sắp soán ngôi Trung Quốc về hút đầu tư hậu cần

Email In PDF

Sự bùng nổ thương mại điện tử cùng chi phí sản xuất thấp đang khiến nhiều nhà sản xuất dịch chuyển từ Trung Quốc sang Đông Nam Á.

Trưởng bộ phận Nghiên cứu Thị trường vốn Đông Nam Á Jones Lang LaSalle (JLL), Regina Lim cho biết điểm đến của ngành hậu cần đang có sự dịch chuyển mạnh mẽ từ Trung Quốc sang Đông Nam Á. Nguyên nhân chủ yếu là bài toán chi phí cạnh tranh.

Mức lương của Trung Quốc hiện cao hơn 3-4 lần so với trước đây trong khi mức lương nội địa tối thiểu ở một số nước Đông Nam Á lại rẻ hơn. Điều này đang thu hút các nhà sản xuất thiết lập nhà máy tại đây nhằm phục vụ cho số đông người tiêu dùng ngày càng tăng lên. Sản lượng sản xuất của Indonesia có thể tăng lên 6,5% trong nửa thập niên tới, so với 5% hiện tại. Còn Việt Nam lại là quốc gia nổi bật với lực lượng lao động lành nghề và chi phí tương đối thấp.

Theo chuyên gia JLL, quy mô thị trường của Đông Nam Á và tiềm năng ngành tiêu dùng tại đây đang cực kỳ hấp dẫn. Đến năm 2050, Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) sẽ có quy mô tương đương với châu Âu, trở thành khu kinh tế lớn thứ tư thế giới, sau Trung Quốc, Ấn Độ và Mỹ. Các nước Đông Nam Á sẽ trở thành các cường quốc; Indonesia được dự báo là nền kinh tế lớn thứ tư trên thế giới, trong khi Philippines và Việt Nam đứng thứ 19 và 20.

Nghiên cứu của Google và Temasek nhấn mạnh thêm tiềm năng của khu vực, dự báo rằng thị trường thương mại điện tử có thể tăng trưởng từ 5,5 tỷ USD năm 2015 lên 88 tỷ USD năm 2025, trong đó Indonesia chiếm 52% thị trường.

Nhân khẩu học trẻ trong khu vực sẽ sớm thúc đẩy thời đại của thương mại điện tử. Giới trẻ ở Đông Nam Á rất thành thạo trong việc sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội và họ đang sử dụng công nghệ để khám phá nhiều hơn. Người tiêu dùng dần bỏ qua máy tính và đang sử dụng điện thoại thông minh để mua sắm. 20-30% người ở Đông Nam Á đã mua sắm trực tuyến qua internet mỗi tháng, tương đương Mỹ hoặc Anh.

Thị trường tiềm năng này đã nằm trong tầm ngắm của các ông lớn thương mại điện tử. Alibaba vừa gia tăng cổ phần của mình trong trang thương mại điện tử lớn nhất khu vực – Lazada Group, đưa tổng số cổ phần lên 95% và ra mắt nền tảng Tmall đang thịnh hành ở Malaysia và Singapore. Tập đoàn này cũng đang thiết lập các trung tâm hậu cần ở Malaysia và Thái Lan.

Tháng trước, Reebonz – thương hiệu thương mại điện tử cao cấp đã khai trương một Trung tâm Thương mại Điện tử có diện tích 18.580 m2 tại Singapore, trong khi Singpost đã giới thiệu một trụ sở hậu cần thương mại điện tử trị giá 131 triệu USD tại Công viên Logistics Tampines ở Singapore.

Nguồn: tapchikinhdoan.com

 

Cơ hội lớn cho nông, thủy sản Việt xuất khẩu sang Australia

Email In PDF

Australia là một trong những thị trường xuất khẩu nông thủy sản lớn của Việt Nam với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu đạt 8,3%/năm và kim ngạch bình quân khoảng 450 triệu USD/năm trong giai đoạn 2011-2016. Và đây được coi là thị trường tiềm năng lớn trong nhiều năm tới cần đẩy mạnh thúc đẩy xuất khẩu.

Nước đầu tiên xuất khẩu tôm tươi nguyên con vào Australia?

Đầu năm 2017, ngành nuôi trồng thủy sản Việt Nam “bàng hoàng” trước quyết định cấm nhập khẩu tôm trong vòng 6 tháng kể từ tháng 1/2017 của Bộ Nông nghiệp Australia do dịch đốm trắng bùng phát ở bang Queensland (Australia). Thứ trưởng Bộ Công Thương Trần Quốc Khánh đã nhấn mạnh, lệnh cấm này đã gây ra thiệt hại cho ngành nuôi trồng thủy sản Việt Nam, trong đó lượng tôm chưa nấu chín xuất khẩu sang Australia vào khoảng 55 triệu AUD.

“Lệnh tạm dừng nhập khẩu của Chính phủ Australia đã và đang gây ra thiệt hại to lớn cho người nuôi tôm và các doanh nghiệp xuất khẩu tôm của Việt Nam. Không ít doanh nghiệp chuyên xuất khẩu tôm vào thị trường Australia còn đối mặt với nguy cơ phá sản”, Thứ trưởng Khánh chia sẻ.

Tháng 3/2017, Bộ Công Thương đưa ra thông điệp rõ ràng với Bộ Nông nghiệp và Tài nguyên nước Australia: “Trong trường hợp Australia tiếp tục duy trì lệnh cấm, Việt Nam đề nghị Australia sớm đưa ra các bằng chứng khoa học đầy đủ cho thấy có mối liên hệ giữa tôm nhập khẩu từ Việt Nam và dịch bệnh đốm trắng tại Australia”.

Sau nhiều nỗ lực kiến nghị Chính phủ Australia cân nhắc, sớm bãi bỏ lệnh tạm ngừng nhập khẩu một số sản phẩm tôm và thịt tôm chưa nấu chín của Việt Nam (áp dụng từ ngày 9/1/2017), thông báo mới nhất từ Bộ Nông nghiệp và Tài nguyên nước Australia cho biết, từ ngày 15/6, Bộ Nông nghiệp và Tài nguyên nước Australia sẽ chấp nhận các đơn xin phép nhập khẩu đối với mặt hàng tôm chưa nấu chín được đánh bắt tự nhiên ở Australia, sau đó xuất khẩu sang Việt Nam để chế biến tái xuất sang Australia.

Bộ Công Thương nhận định, đây là một động thái tích cực của Chính phủ Australia và cũng là một thành công đáng kể của các bộ, ngành, hiệp hội ngành hàng và doanh nghiệp Việt Nam trong việc tháo gỡ rào cản, hỗ trợ mở cửa lại thị trường cho các sản phẩm tôm Việt Nam trong suốt 6 tháng qua.

Hiện nay, Bộ Công Thương vẫn đang tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Bộ NN&PTNT đôn đốc Bộ Nông nghiệp và Tài nguyên nước Australia đẩy nhanh quá trình xem xét các cơ sở sạch bệnh đốm trắng của Việt Nam, đồng thời công nhận hệ thống kiểm soát an toàn chất lượng của Việt Nam.

Điều này nhằm sớm cho phép tôm tươi nguyên con của Việt Nam được nhập khẩu vào thị trường Australia, đồng thời hỗ trợ các doanh nghiệp uy tín của Việt Nam xây dựng, triển khai chương trình giám sát, chứng nhận an toàn dịch bệnh để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp này thâm nhập thị trường Australia với sản phẩm tôm chất lượng cao.

Bộ Công Thương nhận định, nếu hoàn tất được việc mở cửa thị trường, Việt Nam sẽ trở thành nước đầu tiên trên thế giới xuất khẩu được tôm tươi nguyên con vào Australia.

Lên kế hoạch đưa quả thanh long vào Australia

Được cho là thị trường tiềm năng đối với các mặt hàng nông sản, nhất là những mặt hàng trái cây tươi, Bộ Công Thương đã và đang phối hợp với Bộ NN&PTNT tháo gỡ rào cản kỹ thuật để mở cửa thị trường Australia.

Trên thực tế, quá trình đàm phán đối với mỗi một mặt hàng gặp nhiều khó khăn và mất thời gian, thông thường mất từ 5-10 năm. Tuy nhiên, sau một thời gian dài nỗ lực đàm phán, Việt Nam đã có 2 loại trái cây tươi là vải thiều (mất 12 năm) và xoài (mất 7 năm) thâm nhập được thị trường Australia.

Sau khi mở cửa thị trường Australia cho vải thiều và xoài, Bộ Công Thương và Bộ NN&PTNT đang tích cực trao đổi, làm việc với Bộ Nông nghiệp và Tài nguyên nước Australia để tiếp tục cho một số loại quả tươi (thanh long, chôm chôm, vú sữa, nhãn) của Việt Nam được nhập khẩu vào Australia, trước mắt là khẩn trương hoàn tất thủ tục nhập khẩu cho quả thanh long.

Thanh long là mặt hàng trái cây xuất khẩu chủ lực của Việt Nam với kim ngạch xuất khẩu năm 2016 đạt 895,7 triệu USD, chiếm tỷ trọng 50,3% trong xuất khẩu trái cây tươi và 36,1% trong tổng xuất khẩu rau quả của Việt Nam.

Bộ Công Thương cũng đã có công văn trao đổi với Bộ NN&PTNT về vấn đề này để cùng phối hợp sớm hoàn tất các thủ tục mở cửa thị trường Australia cho quả thanh long tươi, dự kiến trong năm 2017.

Song song với công tác này, hiện nay Thương vụ Việt Nam tại Australia đã xây dựng kế hoạch xúc tiến xuất khẩu thanh long tại thị trường Australia, theo đó tổng hợp đầy đủ các thông tin về nhu cầu, thị hiếu, tiêu chuẩn, quy định chất lượng, phương thức tiếp cận mạng phân phối... của thị trường Australia để hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam có thể đón đầu cơ hội xuất khẩu thanh long ngay sau khi được tiếp cận được thị trường.

Thương vụ Việt Nam tại Australia đã làm việc với Hiệp hội Xuất khẩu hoa quả, Hiệp hội các nhà bán lẻ và các doanh nghiệp Việt kiều lớn tại Australia triển khai các hoạt động tuyên truyền, xúc tiến thương mại, kết nối giao thương như tổ chức Ngày vải thiều Việt Nam tại Melbourne, Tuần vải thiều Việt Nam tại Sydney, vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”.

Trong thời gian tới, Bộ Công Thương phối hợp với các cơ quan liên quan tìm kiếm, giới thiệu các tập đoàn lớn của Australia để chuyển giao mô hình công nghệ nông nghiệp tiên tiến của Australia phù hợp với nhu cầu thực tiễn của Việt Nam (công nghệ chế biến, công nghệ tái sử dụng phụ phẩm, công nghệ giống...), đặc biệt là nguồn giống tôm, rau, trái cây nhằm nâng cao chất lượng; tiếp tục nghiên cứu thị trường Australia để tìm kiếm sản phẩm phù hợp của Việt Nam có tiềm năng xuất khẩu, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tham gia trực tiếp các mạng phân phối bán buôn, bán lẻ của Australia, góp phần đưa hàng nông thủy sản thâm nhập sâu hơn vào thị trường này.

Nguồn: baochinhphu.vn

 

Rủi ro trong giao dịch điện tử: Kỳ II: Email thật… vẫn mất tiền

Email In PDF

Nhận diện sự khác biệt giữa email thật và email giả sẽ giúp DN loại bỏ rủi ro. Tuy nhiên, trên thực tiễn, rủi ro trong giao dịch điện tử còn có thể xảy ra ở khâu quy trình giao dịch hoặc rủi ro trong việc chứng minh tính pháp lý của giao dịch.

Thực tiễn, các DN dù tạo lập và sử dụng email mang tên miền công ty nhưng khi tham gia giao dịch thông qua email này vẫn phát sinh tranh chấp và gây rủi ro cho DN. Những vụ việc tiếp theo đây từ VIAC sẽ có cách tiếp cận khác về rủi ro trong giao dịch điện tử.

Cẩn trọng thông tin từ email

Trong vụ thứ nhất, Cty Hòa Dương (Hòa Dương) của Việt Nam đã ký kết hợp đồng mua bán cao su với Công ty Johnson của Ấn Độ (Johnson) thông qua các cán bộ kinh doanh của đôi bên. Sau đó, đối tác nước ngoài đã chuyển khoản đặt cọc nhưng mãi không thấy Hòa Dương giao hàng đành phải khởi kiện ra VIAC.

Trong vụ thứ hai, Cty Xuất khẩu Thực phẩm của Việt Nam (XK) đã ký kết hợp đồng mua bán thực phẩm với đối tác Châu Âu (NK) và hoàn thành nghĩa vụ giao hàng nhưng đợi mãi vẫn không nhận được tiền do NK đã thanh toán theo chỉ định trong email của XK cho một tài khoản ở Trung Quốc. Sau đó, XK đã kiện ra VIAC nhằm yêu cầu NK thực hiện nghĩa vụ thanh toán.

Điểm giống nhau của hai vụ việc trên đó chính là phía DN Việt Nam đều có email mang tên miền công ty và đều sử dụng email này trong giao dịch, khác với 2 bên MGF – HT trong Kỳ 1 đều sử dụng email miễn phí.

Tuy nhiên, trong thứ vụ thứ 2, XK không chứng minh được chỉ dẫn thanh toán cho tài khoản ở Trung Quốc không phải là của họ, mặc dù NK đã cố gắng giải thích với trọng tài là chỉ dẫn thanh toán là do tin tặc xâm nhập thực hiện. Trong khi vụ thứ 1 rủi ro được hoán đổi cho đối tác nước ngoài là Johnson khi Hòa Dương mặc dù giao kết qua email công ty nhưng sau khi nhận tiền cọc thì chối bay mọi cam kết và thoái thác trách nhiệm của mình vì lý do Hoà Dương không có bất kỳ email nào của cán bộ kinh doanh đã giao dịch với Johnson và đẩy trách nhiệm xác thực tồn tại email giao dịch và nội dung giao dịch về phía đại diện uỷ quyền Johnson, một đối tác tin cậy của họ tại Việt Nam, khi tham gia tố tụng. Không có khả năng chứng minh lý lẽ thuộc về mình, cả XK và Jonhson đều phải mất trắng trong các vụ kiện này. Như vậy, email mang tên miền Cty vẫn có khả năng bị đột nhập và ăn cắp dữ liệu trái phép bởi tin tặc hoặc bị đối tác không đáng tin cậy lợi dụng sự phức tạp trong việc xác thực giao dịch điện tử để trục lợi.

Trong giao dịch điện tử các bên thường phối hợp nhiều phương thức liên lạc với nhau như thư điện tử gồm email miễn phí và email mang tên miền công ty, ứng dụng nhắn tin qua đi động, điện thoại, gọi video trực tuyến. Các vụ kiện liên quan đến giao dịch điện tử tại VIAC đều cho thấy có sự phối hợp các phương tiện này: Vụ kiện giữa MGF-HT các bên sử dụng email miễn phí và wechat - một ứng dụng nhắn tin trên điện thoại, Johnson và Hòa Dương liên hệ với nhau qua email công ty của thư ký Cty Hòa Dương và qua điện thoại, còn NK liên hệ với đối tác qua hai loại email - miễn phí và của công ty. Tuy nhiên sự phối hợp các phương thức này vẫn có kẽ hở nếu như sự trao đổi và kiểm tra thông tin giữa các bên lỏng lẻo, thiếu tính cẩn trọng.

Những giải pháp thực tiễn

Qua các vụ việc nêu trên, một số biện pháp có thể áp dụng để giảm thiểu các rủi ro theo nhiều cấp độ phải được khuyến nghị DN cân nhắc thực hiện như:

DN nên sử dụng phần mềm bảo mật cho hệ thống máy tính của công ty; chuyển đổi sang sử dụng email DN thay vì các email miễn phí của yahoo hoặc gmail để tránh tình trạng bị làm giả email tương tự bằng cách thay đổi một ký tự. Khi giao dịch với đối tác cũng nên yêu cầu họ sử dụng/ tạo email của Cty thay vì sử dụng email miễn phí.

Luôn luôn kiểm tra thông tin liên hệ, địa chỉ email, số điện thoại của đối tác và thẩm quyền của người liên lạc qua email, đặc biệt là những tài liệu quan trọng.

Liên hệ trực tiếp với đối tác thông qua điện thoại, gọi video trực tuyến, fax.

Trước khi thực hiện thanh toán luôn chủ động liên hệ với bên nhận thanh toán để kiểm tra thông tin tài khoản thanh toán và đề nghị bên đối tác xác nhận nếu có thay đổi về thông tin tài khoản thanh toán.

Yêu cầu ngân hàng kiểm tra thông tin tài khoản người thụ hưởng và thông tin tài khoản thanh toán, đối chiếu tên, số tài khoản rồi mới thực hiện lệnh chuyển tiền.

Ngoài ra, trong vụ việc Hoà Dương và Johnson, đối tác của Johnson tham gia vụ việc tại VIAC là một thương nhân nên không hoàn toàn đủ thời gian và kỹ năng pháp lý cần thiết để có thể theo đuổi vụ kiện, do vậy, bài học cho các DN tương tự Johnson là phải biết “chọn mặt gửi vàng”, uỷ quyền cho công ty luật hoặc luật sư để thực hiện các dịch vụ pháp lý chuyên nghiệp tại các cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình.

Nguồn: LS Châu Việt Bắc - Phó Tổng thư ký trung tâm trọng tài quốc tế việt nam (VIAC)

 

Nắm chắc cơ hội để đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường EU

Email In PDF

Trước thềm chuyến thăm chính thức một số nước Liên minh châu Âu (EU) của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc, phóng viên TTXVN đã có cuộc trao đổi với Vụ trưởng Vụ Thị trường châu Âu (Bộ Công Thương) Đặng Hoàng Hải xung quanh những thuận lợi, khó khăn cũng như những giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường "khó tính" nhưng đầy tiềm năng này.

Phóng viên: Xin ông cho biết về những khó khăn, thuận lợi khi Việt Nam xuất khẩu vào thị trường EU?

Ông Đặng Hoàng Hải: EU là một thị trường lớn và tiềm năng với 28 quốc gia thành viên và dân số trên 500 triệu người. Trong thời gian qua, quan hệ thương mại Việt Nam-EU đã phát triển nhanh chóng và Việt Nam luôn ở vị trí xuất siêu sang thị trường này.

Thống kê cho thấy, năm 2016 Việt Nam xuất khẩu sang EU trên 34 tỷ USD (tăng 12 lần so với giá trị xuất khẩu sang EU năm 2000), nhập khẩu 11 tỷ USD. Như vậy, giá trị xuất khẩu sang EU năm 2016 gấp hơn 3 lần giá trị nhập khẩu từ EU.

Hiện Việt Nam tiếp tục được hưởng Quy chế ưu đãi thuế quan phổ cập cho giai đoạn 2017-2019. Đây là một thuận lợi cho doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam và cũng là lợi thế của Việt Nam so với các nước xuất khẩu vào EU nhưng không được hưởng GSP.

Khi Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-EU (EVFTA) có hiệu lực, Việt Nam cũng đã có kinh nghiệm của 20 năm tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế. Doanh nghiệp Việt Nam đã không còn ở thế bị động đối phó với cạnh tranh như những ngày đầu mở cửa.

Thêm vào đó, mặc dù cạnh tranh là điều tất yếu, nhưng do cơ cấu thương mại của Việt Nam và EU có tính bổ trợ cho nhau, sức ép cạnh tranh của EU sẽ không gay gắt như một số đối tác quen thuộc của Việt Nam. Điều này sẽ mang lại tác động tích cực cho doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam.

Không những thế, cam kết mở của thị trường mạnh mẽ trong EVFTA sẽ là một cú huých quan trọng để thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam- EU trong tương lai. Đây cũng như cơ hội mở rộng hơn nữa thị trường cho hàng xuất khẩu Việt Nam, nhất là những sản phẩm thế mạnh của Việt Nam như dệt may, giày dép, nông thuỷ sản, đồ gỗ.

Thời gian qua, quan hệ thương mại Việt Nam-Liên minh châu Âu (EU) phát triển nhanh chóng và Việt Nam luôn xuất siêu sang thị trường này. Tuy nhiên, đây là thị trường đòi hỏi nghiêm ngặt về tiêu chuẩn chất lượng, an toàn, trong khi không phải doanh nghiệp nào cũng đáp ứng được các yêu cầu.

Hơn nữa, hệ thống luật pháp, chính sách của Việt Nam vẫn thiếu đồng bộ, nhất quán, ổn định và đây là nguyên nhân gây bất lợi khi phải đối mặt với các vụ tranh chấp và kiện quốc tế.

Do đó, chuyến thăm chính thức Cộng hòa Liên bang Đức, Vương quốc Hà Lan và tham dự Hội nghị hội đỉnh G20 của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc từ ngày 5-11/7 được mong đợi sẽ tạo ra xung lực mới để quan hệ thương mại giữa Việt Nam-EU ngày càng phát triển và đi vào chiều sâu.

Mặt khác, mặc dù Việt Nam đã thực hiện mở cửa thị trường mạnh mẽ, xây dựng được nhiều văn bản pháp luật thích ứng với các cam kết quốc tế và khu vực. Tuy nhiên, hệ thống luật pháp, chính sách của Việt Nam vẫn chưa đầy đủ, đồng bộ, nhất quán và ổn định. Điều này sẽ là nguyên nhân gây bất lợi cho Việt Nam khi phải đối mặt với các vụ tranh chấp và kiện quôc tế.

Đối với Hiệp định EVFTA, mặc dù hướng tới xoá bỏ thuế nhập khẩu lên đến gần 100% biểu thuế và kim ngạch thương mại của hai bên, tuy nhiên, doanh nghiệp Việt Nam chưa có hiểu biết đầy đủ đối vấn đề xuất xứ. Mặt khác, một số quy tắc xuất xứ trong FTA còn chặt mà doanh nghiệp chưa đáp ứng được.

Chính vì vậy, các doanh nghiệp cần chủ động tìm hiểu và xây dựng kế hoạch trong việc điều chỉnh chuỗi cung ứng, các nguyên vật liệu đầu vào để đảm bảo đáp ứng các quy tắc xuất xứ, qua đó mới có thể thực sự tận dụng được thuế suất ưu đãi khi EVFTA có hiệu lực.

Không chỉ vậy, hiện châu Âu đang phải đối mặt với nhiều bất ổn về tình hình chính trị, xuất hiện chủ nghĩa ly khai, dân túy đe dọa đến tính thống nhất trong liên minh châu Âu, khủng hoảng nhập cư, khủng hoảng nợ công.

Do vậy, chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến giao thương trong nội bộ EU và giao thương giữa EU và các nước thứ 3. Điều này sẽ ảnh hưởng đến các doanh nghiệp xuất khẩu trên thế giới sang EU nói chung và các doanh nghiệp xuất khẩu từ Việt Nam sang EU nói riêng.

Vậy ông có khuyến cáo gì với doanh nghiệp khi xuất khẩu sang thị trường này?

Các nước thành viên EU áp dụng thuế suất và chính sách xuất nhập khẩu về hàng hoá chung nhưng mỗi nước lại có những đặc điểm riêng biệt về địa lý, nhu cầu tiêu thụ hàng hoá, tốc độ tăng trưởng thương mại với Việt Nam.

Vì thế, doanh nghiệp khi xuất khẩu cần nghiên cứu thông tin để nắm được đặc điểm riêng từng thị trường nhằm đảm bảo cho thành công và hiệu quả của việc xuất khẩu.

Mặc dù, quan hệ thương mại Việt Nam-EU đang phát triển nhanh chóng, tuy nhiên, Việt Nam mới đang tập trung nhiều với một số nước như Đức, Pháp, Anh, Hà Lan, Italy. Đây là 5 thị trường lớn nhất của Việt Nam tại EU, cả về xuất khẩu và nhập khẩu, chiếm khoảng 68% tổng thương mại với các nước EU.

Điều này cho thấy, xuất khẩu Việt Nam chưa tập trung vào nhóm các thị trường còn lại của EU và tiềm năng cho Việt Nam xuất khẩu sang các thị trường này còn rất lớn, đặc biệt khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực.

Ngoài ra, năm 2016 phía EU đã tăng cường kiểm tra, kiểm soát chất lượng sản phẩm và nguồn gốc xuất xứ đối với các mặt hàng nhập khẩu nhất là với các mặt hàng nông sản, thép nhập khẩu từ châu Á.

Do vậy, các doanh nghiệp cần chú ý đảm báo đáp ứng đầy đủ quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm, về chất lượng cũng như đảm bảo nguồn gốc xuất xứ từ Việt Nam để tránh bị điều tra hoặc bị áp dụng những hình thức phòng vệ thương mại.

Để đón đầu cơ hội và khai thác được nhiều lợi ích từ Hiệp định EVFTA, các doanh nghiệp Việt Nam cần chủ động đổi mới, sáng tạo, tăng cường năng lực, nâng cao chất lượng sản phẩm và xây dựng kế hoạch phù hợp nhằm nâng cao năng lực để đối phó với thách thức.

Hơn nữa, việc Anh rời EU (Brexit) cũng kéo theo một số hệ lụy tiêu cực về mặt kinh tế. Kết quả khảo sát 1.300 doanh nghiệp tại Đức ngày 28/3 cho thấy 9% số doanh nghiệp Đức sẽ chuyển hoạt động đầu tư từ Anh về Đức, hoặc sang các nước EU khác; trong khi 40% muốn giảm dần giao dịch với London.

Do đó, đối với các doanh nghiệp Việt Nam đã và đang xuất khẩu sang EU qua Anh thì cũng nên theo dõi sát tình hình, chủ động xây dựng các phương án xuất khẩu bổ sung, thay thế để kịp thời phản ứng với các tình huống xảy ra.

Đáng lưu ý là Ủy ban châu Âu (EC) đang dự kiến áp dụng các quy định mới liên quan đến giảm dư lượng tối đa (MRL) chất Tricyclazole cho phép trong gạo nhập khẩu và chất Metalaxyl trong hạt tiêu nhập khẩu.

Vì thế, các doanh nghiệp Việt Nam, cụ thể là các doanh nghiệp xuất khẩu gạo và nông sản, nên quan tâm và chủ động cập nhật về diễn biến này từ phía EC cũng như xây dựng giải pháp cho doanh nghiệp để kịp phản ứng với những thay đổi nếu có xảy ra.

Về phía Bộ Công Thương sẽ có giải pháp gì để đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường EU và định hướng trong thời gian tới, thưa ông?

Để đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường EU, Bộ Công Thương đã và đang chỉ đạo Thương vụ và các đơn vị liên quan tăng cường thực hiện các giải pháp thúc đấy xuất khẩu các mặt hàng chủ lực, mở rộng thị trường, tập trung khai thác lợi thế xuất khẩu của Việt Nam.

Ngoài ra, Bộ Công Thương đã xây dựng và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam tham gia trực tiếp các mạng phân phối nước ngoài, và đang tích cực chỉ đạo triển khai đề án này.

Tại thị trường EU thông qua các sự kiện Tuần hàng Việt Nam tại nước ngoài, Xúc tiến thương mại quốc gia, xây dựng các buổi gặp mặt B2B kết nối các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam với trực tiếp các hãng phân phối lớn tại châu Âu (Pháp, Italy) để doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội giới thiệu năng lực, quảng bá mặt hàng, tìm kiếm cơ hội xuất khẩu trực tiếp với các hãng phân phối lớn của châu Âu mà không qua trung gian.

Riêng Vụ Thị trường châu Âu cũng đang triển khai Đề tài “Nghiên cứu giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường một số nước Đông Âu” nhằm tìm kiếm cơ hội, mở rộng thị trường xuất khẩu hàng Việt Nam tại EU.

Xin trân trọng cảm ơn ông.

Nguồn: TTXVN

 

Nhật Bản dẫn đầu nguồn vốn FDI vào Việt Nam 6 tháng đầu năm

Email In PDF

Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và đầu tư) cho biết, Nhật Bản là quốc gia có tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lớn nhất vào Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2017.

Theo đó, trong 6 tháng đầu năm 2017, có 94 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam.
Trong đó, Nhật Bản đứng vị trí thứ nhất với tổng vốn đầu tư là 5,08 tỷ USD, chiếm 26,45% tổng vốn đầu tư; Hàn Quốc đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư đăng ký là 4,95 tỷ USD, chiếm 25,79% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam; Singapore đứng vị trí thứ 3 với tổng vốn đầu tư đăng ký là 3,48 tỷ USD, chiếm 18,1% tổng vốn đầu tư.

Nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 60 tỉnh thành phố, trong đó với dự án điện hơn 2,7 tỷ USD, Thanh Hoá là địa phương thu hút nhiều vốn FDI nhất với tổng số vốn đăng ký là 3,06 tỷ USD, chiếm 15.9% tổng vốn đầu tư. Bắc Ninh đứng thứ 2 với tổng vốn đăng ký là 2,85 tỷ USD, chiếm 14,83% tổng vốn đầu tư. Nam Định đứng thứ 3 với tổng số vốn đăng ký 2,19 tỷ USD chiếm 11,4% tổng vốn đầu tư.
Theo Cục Đầu tư nước ngoài, đến ngày 20/06/2017, cả nước có 1.183 dự án mới được cấp Giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký là 11,83 tỷ USD, tăng 57,9% so với cùng kỳ năm 2016.

Đồng thời, có 549 lượt dự án đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 5,14 tỷ USD, tăng 35,8% so với cùng kỳ năm 2016 và 2.501 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn là 2,24 tỷ USD, tăng 97,6% so với cùng kỳ 2016.
Như vậy, trong 6 tháng đầu năm 2017, tổng vốn đăng ký cấp mới, tăng thêm và góp vốn mua cổ phần là 19,22 tỷ USD, tăng 54,8% so với cùng kỳ năm 2016.

Nguồn: tapchitaichinh.vn

 

FTA Việt Nam-EAEU ‘mở cửa’ thị trường Belarus cho DN Việt

Email In PDF

Các thỏa thuận ký kết được kỳ vọng sẽ tạo bước chuyển mạnh mẽ trong hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư giữa Việt Nam và Belarus.

Vụ Thị trường châu Âu (Bộ Công Thương) cho biết, Việt Nam và Belarus có quan hệ hữu nghị truyền thống tốt đẹp và hợp tác nhiều mặt. Các thỏa thuận quan trọng được ký kết và đã có hiệu lực giữa hai nước trong lĩnh vực kinh tế-thương mại như Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-Liên minh Kinh tế Á-Âu (EAEU) và Nghị định thư Việt Nam-Belarus về hỗ trợ sản xuất phương tiện vận tải gắn động cơ trên lãnh thổ Việt Nam tạo ra những bước chuyển mạnh mẽ trong hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư giữa hai nước.

Thống kê cho thấy, kim ngạch thương mại hai chiều năm 2016 đạt 94,5 triệu USD (xuất khẩu 2,5 triệu USD, nhập khẩu 92 triệu USD). Riêng quý I năm 2017 đạt 37,7 triệu USD, trong đó xuất khẩu đạt 1,4 triệu USD và nhập khẩu đạt 36,3 triệu USD.

Hiện Việt Nam xuất sang Belarus chủ yếu là thủy hải sản, đồ gỗ, hàng dệt may, giày dép, gạo, cao su tự nhiên, hạt điều, lạc, hạt tiêu, gia vị, chè, rau quả đóng hộp, dược phẩm, máy tính...

Ngược lại, Việt Nam nhập khẩu từ Belarus các mặt hàng phân bón, máy móc, thiết bị, linh kiện phụ tùng ô tô, máy kéo, ô tô tải, hóa chất... Hai bên phối hợp chặt chẽ trong khuôn khổ Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Kinh tế Á-Âu.

Theo Cục Xuất Nhập khẩu (Bộ Công Thương), hiện nay có khoảng 938 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu sang Liên minh Kinh tế Á-Âu; trong đó có khoảng 200 doanh nghiệp có kim ngạch lớn, chiếm 90% tổng xuất khẩu, chủ yếu tập trung vào các ngành hàng thủy sản, cà phê, cao su, chè, gạo, hạt điều, hạt tiêu, dệt may, giày dép, gỗ, bánh kẹo các loại…; số doanh nghiệp còn lại tham gia xuất khẩu nhưng kim ngạch không đáng kể.

Rõ ràng, việc "bắt tay" với EAEU sẽ mở ra cơ hội "vàng" với các mặt hàng xuất khẩu thế mạnh của Việt Nam. Song, kèm theo đó là không ít thách thức với các doanh nghiệp, bởi sẽ phải cạnh tranh gay gắt với các mặt hàng nhập khẩu từ chính EAEU để đứng vững trên "sân nhà".

Tại kỳ họp của Ủy ban liên Chính phủ Việt Nam-Belarus về hợp tác kinh tế-thương mại và khoa học- kỹ thuật được tổ chức mới đây tại Hà Nội, Phó Thủ tướng Cộng hòa Belarus Vladimir Semashko hài lòng và ghi nhận hợp tác giữa Việt Nam và Belarus về kinh tế-thương mại và khoa học-kỹ thuật đang từng bước được mở rộng, đạt kết quả khả quan. Đặc biệt, FTA giữa Việt Nam và EAEU đã có hiệu lực đã tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp hai nước tăng cường hợp tác thương mại và đầu tư.

Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh khẳng định, việc FTA giữa Việt Nam-EAEU có hiệu lực đánh dấu một bước ngoặt lớn trong tiến trình hội nhập sâu rộng của Việt Nam với các nước lớn trên thế giới. Để tận dụng hiệu quả lợi ích mà hiệp định mang lại, không còn cách nào khác là mỗi doanh nghiệp cần nỗ lực vươn lên, định hình cho mình những chiến lược, giải pháp mới trong việc tạo ra các sản phẩm có giá trị cao, đủ sức cạnh tranh với các đối tác nước ngoài và trụ vững trên thị trường trong nước.

Theo Bộ trưởng Trần Tuấn Anh, Việt Nam và Belarus sẽ tiếp tục đẩy mạnh hợp tác trong lĩnh vực thương mại đầu tư, công nghiệp, giao thông vận tải, giáo dục và đào tạo nhằm đưa quan hệ hai nước lên tầm cao mới.

Nguồn: TTXVN

 

Việt Nam vẫn hấp dẫn đầu tư nước ngoài dù TPP thiếu Mỹ

Email In PDF

Không có dấu hiệu nào cho thấy các kế hoạch đầu tư vào Việt Nam bị tác động kể từ khi Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố rời hiệp định TPP.

Cứ mỗi 45 giây, một chiếc áo sơ mi VanHeusen dành cho cửa hàng JC Penney tại Mỹ lại được xuất xưởng trong một nhà máy gần Hà Nội.

Cạnh đó, các cánh đồng lúa rộng bằng 40 sân bóng đá đang nhường chỗ cho dự án nhà máy dệt trị giá 320 triệu USD mà TAL Group (Hong Kong) dự kiến sẽ xây dựng, nhằm bỏ qua công đoạn nhập khẩu vải may áo sơ mi.

Cũng như ở các khu vực khác của Việt Nam, không có bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy các kế hoạch đầu tư của nước ngoài bị tác động kể từ khi Tổng thống Mỹ Donald Trump rút khỏi Hiệp định thương mại tự do xuyên Thái Bình Dương (TPP), vốn được dự kiến ​​sẽ mang lại nhiều lợi ích cho Việt Nam hơn bất kỳ nước nào khác.

Thực tế, giá trị các khoản đầu tư nước ngoài đã tăng 6% so với năm ngoái lên 6,15 tỷ USD trong năm tháng đầu năm nay. Chi phí lao động rẻ là một điểm thu hút các nhà đầu tư nước ngoài. Giám đốc điều hành của TAL, Roger Lee, cho biết Việt Nam cũng được đánh giá cao về năng lực quản lý tầm trung, thái độ làm việc của công nhân, và chính sách của chính phủ.

"Việt Nam là một lựa chọn rất hấp dẫn", ông Lee nói.

Tiền lương công nhân ngành may Việt Nam hiện ở mức 250 USD/tháng, so với con số 700 USD tại Trung Quốc, nơi TAL gần đây đã đóng cửa nhà máy vì lý do chi phí.

Việc giảm thuế lên tới 30% sẽ giúp cho các công ty may mặc hưởng lợi đặc biệt từ TPP, vốn được dự đoán sẽ giúp xuất khẩu của Việt Nam tăng thêm 28% và GDP tăng thêm 11% trong vòng một thập kỷ.

Các công ty may mặc khác cũng không hề nản lòng khi TPP bị đổ vỡ. Giám đốc điều hành của Lawsgroup là Bosco Law nói với Reuters rằng họ đang tìm cách mở rộng hơn nữa, so với quy mô hiện nay là 3 nhà máy và 10.000 công nhân.

Mức thặng dư thương mại của Việt Nam với Mỹ, hiện lớn thứ 6 trong số các đối tác thương mại của Mỹ, đang bị xem xét kỹ lưỡng dưới chính sách "America First" (nước Mỹ trên hết) của Tổng thống Trump, nhằm mang việc làm sản xuất về lại nước này. Nhưng điều đó đã không làm nản lòng giới đầu tư.

"Chúng tôi đã bắt đầu làm việc với một vài công ty sản xuất của Mỹ, họ đã liên lạc với chúng tôi sau khi TPP đổ vỡ, và họ đã sẵn sàng chuyển một phần hoạt động ra khỏi Trung Quốc", Oscar Mussons từ công ty tư vấn Dezan Shira & Associates cho biết.

Rẻ hơn Trung Quốc

Việt Nam đã được lợi nhiều khi chi phí sản xuất của Trung Quốc gia tăng, và Trung Quốc hiện cũng là một trong ba nhà đầu tư lớn nhất tại Việt Nam.

Thỏa thuận TPP giúp các nhà sản xuất đặt cơ sở tại Việt Nam tăng khả năng tiếp cận với Mỹ và các thị trường khác, nhưng cũng buộc Việt Nam phải cải cách, từ mở cửa thị trường nhập khẩu lương thực cho đến tăng quyền lợi cho người lao động.

Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng nói với Reuters rằng Việt Nam đã lên kế hoạch tiếp tục theo đuổi các cam kết với TPP, bao gồm cả việc tăng cường sức mạnh cho nền kinh tế, và các thỏa thuận thương mại khác như FTA với Liên minh châu Âu (EU). 11 nước TPP còn lại cũng đang tiếp tục giữ hiệp định này tồn tại.

Bộ trưởng Dũng cho biết Việt Nam đặt mục tiêu thu hút 10 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) mỗi năm trong vòng 5 năm tới, thấp hơn mức 16 tỷ USD trong năm 2016 bởi Việt Nam đang muốn thu hút vốn một cách có chọn lọc.

"Trước kia chúng tôi tập trung vào số lượng, bây giờ thì là chất lượng. Công nghệ cao hơn, giá trị gia tăng cao thêm, ít sử dụng năng lượng hơn, ít sử dụng nguyên vật liệu hơn, ít lao động giá rẻ hơn", ông Dũng nói.

Đó là một thách thức lớn, bởi Việt Nam vẫn còn thua kém đối thủ cạnh tranh về các kỹ năng quan trọng nhất. Tỷ lệ học sinh cấp 2 tiếp tục học lên cao hơn nữa của Việt Nam thấp hơn 1/3 so với Trung Quốc và thấp hơn 3 lần so với Hàn Quốc.

"Việt Nam vẫn là một nước rất hấp dẫn, nhưng các doanh nghiệp có thể không đầu tư nhiều như kỳ vọng, vì họ nhận thấy nhân viên thiếu kỹ năng tạo ra giá trị giá tăng", Mussons cho biết.

"Các doanh nghiệp đã quá tập trung vào việc tiết giảm chi phí mà không chú trọng đào tạo nhân viên".

Nguồn: thoibaokinhdoanh.vn

 

Chuyện hỗ trợ thông tin pháp lý cho nhà đầu tư nước ngoài

Email In PDF

Việc hỗ trợ thông tin pháp lý cho nhà đầu tư nước ngoài dường như chưa được chú ý đúng mức ở Việt Nam.

Các nước có khả năng thu hút đầu tư nước ngoài mạnh mẽ đều đặc biệt chú trọng phát triển kênh hỗ trợ thông tin cơ bản cho nhà đầu tư nước ngoài. Khi có ý định đầu tư kinh doanh ở một nước nào đó, nhà đầu tư sẽ đi bước đầu tiên là tìm thông tin cơ bản liên quan đến việc đầu tư tại trang web chuyên về đầu tư do chính phủ nước đó xây dựng, trước khi thực sự nhờ cậy đến các chuyên gia tư vấn. Khảo sát các trang web này, có thể thấy sự hiện diện không thể thiếu của các văn bản pháp luật, các phân tích luật, hướng dẫn thủ tục đầu tư, giải đáp thắc mắc của nhà đầu tư, bên cạnh các thông tin liên quan đến cơ hội đầu tư, các chỉ số kinh tế - xã hội của từng vùng, các cơ hội gặp gỡ đối tác trong nước cũng như nhiều thông tin khác liên quan đến chính sách đầu tư. Hầu như các thông tin đều được dịch sang tiếng Anh, để dỡ bỏ rào cản ngôn ngữ.

Hãy lấy ví dụ Trung Quốc. Khi tìm kiếm trên Internet với từ khóa “Invest in China” (đầu tư vào Trung Quốc), sẽ hiện ra ngay trang đầu tiên của kết quả tìm kiếm trang web của Chính phủ Trung Quốc “FDI - Investment in China” (1). Trong trang web này, ta có thể dễ dàng tìm thấy các văn bản luật và dưới luật của Trung Quốc được dịch cẩn thận sang tiếng Anh. Thậm chí các diễn giải luật của tòa án Tối cao cũng được dịch và đăng tại đây. Nhà đầu tư chỉ cần dạo một vòng trên trang này là đã có thể nắm được những thông tin cơ bản liên quan đến việc đầu tư tại Trung Quốc. Sự nghiêm túc, chuyên nghiệp và chi tiết trong cách trình bày thông tin mang đến cho nhà đầu tư một tâm lý tích cực về tương lai đầu tư tại nước này. Cũng xin nói thêm là nhiều trang web khác của Chính phủ Trung Quốc cũng làm rất tốt công việc truyền tải thông tin chi tiết bằng tiếng Anh cho người nước ngoài. Như trang liên quan đến sở hữu trí tuệ, ngoài thông tin chi tiết về các văn bản luật và dưới luật, diễn giải của tòa tối cao, ta còn có thể tìm thấy các vụ án vi phạm sở hữu trí tuệ lớn đã được xử tại tòa.

Tôi có thử một ví dụ khác, đó là Lào, đất nước láng giềng kém phát triển hơn Trung Quốc rất nhiều. Với từ khóa “Invest in Laos”, kết quả đầu tiên tôi nhận được là trang web về đầu tư của Bộ Kế hoạch và Đầu tư Lào (2). Chất lượng thông tin làm tôi khá ngạc nhiên, so với những gì tôi hình dung về Lào. Các thông tin được đưa lên bằng tiếng Anh và tiếng Lào, gồm nhiều mục, ví dụ như lý do đầu tư tại Lào, các vùng nên đầu tư với chế độ ưu đãi, các chỉ số thống kê kinh tế. Và khi vào phần liên quan đến các văn bản pháp luật, chỉ cần nhấp chuột là tiếp cận được các văn bản đã được dịch sang tiếng Anh.

Còn ở Việt Nam thì sao? Từ lâu, không khó để thấy một trong những rào cản đối với việc đầu tư nước ngoài vào Việt Nam là vấn đề tiếp cận thông tin liên quan đến môi trường pháp lý. Qua trao đổi với nhiều nhà đầu tư nước ngoài và luật gia nước ngoài có cơ hội làm việc tại Việt Nam, phần lớn phàn nàn rằng ở Việt Nam không dễ tiếp cận thông tin về luật pháp như nhiều quốc gia đang phát triển khác. Các nhà đầu tư nước ngoài dường như phải phụ thuộc quá nhiều vào các luật gia tại Việt Nam trong việc tiếp cận các quy định của pháp luật Việt Nam. Ngoài vấn đề chi phí phải trả, sự khó khăn trong việc tìm được một chuyên gia luật Việt Nam thực sự có khả năng phân tích và truyền tải thông tin để có thể hoàn toàn tin tưởng dựa vào trong quá trình kinh doanh cũng gây tâm lý ngại ngần ở nhiều nhà đầu tư nước ngoài.

Gần đây, tôi có thử “đóng vai” nhà đầu tư để tìm kiếm thông tin liên quan đến đầu tư ở Việt Nam. Với từ khóa “Invest in Việt Nam”, trong trang đầu tiên của kết quả tìm kiếm, tôi không tìm thấy bất cứ trang web nào của Chính phủ Việt Nam mà chỉ thấy các bài báo và vài công ty tư vấn đầu tư ở Việt Nam. Cảm giác đầu tiên là sự thiếu “quan tâm” đến nhà đầu tư. Sau đó, tôi thử lại với từ khóa “Foreign Investment Agency Vietnam” (Văn phòng đầu tư trực tiếp Việt Nam) thì ra FIA Vietnam, cơ quan tư vấn đầu tư nước ngoài của Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam. Thông tin trong trang này khá nghèo nàn, chất lượng dịch tiếng Anh cũng không cao. Thất vọng lớn nhất là khi nhấn vào mục thông tin liên quan đến pháp luật Việt Nam (mục Legal & Facts). Các văn bản pháp luật hầu như chỉ có tên luật, không có nội dung luật nào cả. Phần “Câu hỏi thường gặp” (Frequently Asked Question) trống trơn, không có nội dung gì. Đến đây thì nhà đầu tư là tôi hết kiên nhẫn và... bỏ cuộc.

Trong bối cảnh Việt Nam đang nỗ lực đổi mới, nâng cao chất lượng các văn bản luật, cải thiện môi trường đầu tư để thu hút đầu tư, với việc các nhà đầu tư nước ngoài vẫn còn vô số khó khăn khi tiếp cận thông tin về môi trường pháp lý liên quan đến đầu tư như hiện nay, e rằng nhiều nhà đầu tư tiếp tục giữ tâm lý ngại ngần không dám đầu tư vào Việt Nam.

(*) Thành viên Hội các nhà khoa học Việt Nam tại Pháp

(1) http://www.fdi.gov.cn/ 1800000121_ 39_0_1_6.html

(2) http://www.investlaos.gov.la/

Nguồn: TBKTSG

 

Bộ Công Thương nêu 8 bước để xuất khẩu hàng hoá vào Úc

Email In PDF

Thương vụ Việt Nam tại Úc khuyến cáo các doanh nghiệp khi nhập khẩu hàng hoá vào Úc, cần kiểm tra các bước sau đây để đảm bảo tuân thủ các qui định và luật lệ của Úc.

Bước 1, đảm bảo nắm được các luật và qui định nhập khẩu. Chính phủ Úc có một số luật các doanh nghiệp phải tuân thủ khi nhập khẩu hàng hoá vào Úc.
Bước 2, kiểm tra hàng hoá có cần phải xin giấy phép nhập khẩu. Thông thường, doanh nghiệp và cá nhân nhập khẩu hàng hoá vào Úc không cần giấy phép nhập khẩu. Tuy nhiên, đối với một số mặt hàng nhất định, bạn cần xin giấy phép. Thương vụ Việt Nam tại Úc khuyến cáo một số loại hàng hoá bị cấm hoặc hạn chế nhập khẩu, nhưng chủ yếu là các mặt hàng như hoá chất nguy hiểm, dược phẩm, ma tuý, một số loại thực phẩm nhất định, vũ khí, thuốc lá, và một số loại vật liệu sinh học.

Đồng thời, khi nhập khẩu hàng hoá, DN cũng cần hiểu các qui tắc xuất xứ để tận dụng các ưu đãi nếu có.

Bước 3, kiểm tra xem hàng hoá có phải kiểm dịch, nếu nhập khẩu thực vật, động vật, khoáng sản và các sản phẩm dùng cho con người thì phải kiểm dịch và xử lý côn trùng hoặc các yếu tố sinh học khác.

Bước 4, kiểm tra các loại phí và thuế phải nộp. Phí xử lý hàng hoá: Thông thường, hải quan sẽ thu phí xử lý hàng hoá thông thường dưới 200 AUD. Thuế hàng hoá và dịch vụ (GST): GST được tính bằng 10% tổng giá trị của hàng hoá, cộng với thuế nhập khẩu, cộng với phí bảo hiểm và vận chuyển đến Úc. Thuế nhập khẩu được tính dựa trên phần trăm giá hàng hoá. Thuế nhập khẩu vào khoảng 0-10% nhưng chủ yếu 5%. Thuế tiêu thụ đặc biệt áp dụng cho đồ uống có cồn, thuốc lá và xăng dầu.

Bước 5, tận dụng các ưu đãi thuế. Một số loại hàng hoá được ưu đãi thuế (giảm thuế). Bước 6, hiểu các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA). Úc tham gia một số Hiệp định Thương mại Tự do nhằm xoá bỏ các rào cản thương mại quốc tế và giảm chi phí nhập khẩu. Tra cứu các thông tin để tận dụng các ưu đãi từ các Hiệp định này mang lại.

Bước 7, tìm hiểu các chi phí khác (nếu có), chi phí vận chuyển quốc tế và nội địa, Phí xử lý hàng hoá tại cảng, Phí bảo hiểm, Các loại phí khác

Bước 8, đảm bảo hàng hoá được dán nhãn chính xác là hàng hoá nhập khẩu phải dán nhãn phù hợp, gồm ít nhất các thông tin về nước sản xuất và xuất xứ, miêu tả chính xác về hàng hoá, địa chỉ người xuất khẩu và người nhập khẩu. Nhãn phải được viết bằng tiếng Anh, gắn liền với hàng hoá, ở vị trí dễ nhận biết và dễ đọc. Một số mặt hàng cần phải tuân thủ các qui định về dán nhãn cụ thể này.

Nguồn: thoibaokinhdoanh.vn

 

Cơ hội xuất khẩu thực phẩm và đồ uống sang thị trường Hoa Kỳ

Email In PDF

Việt Nam xếp thứ 16 trong số các đối tác thương mại hàng đầu của Hoa Kỳ. Tăng trưởng thương mại giữa hai nước hàng năm đạt 20%. Cán cân thương mại hàng hoá của Việt Nam trong trao đổi thương mại với Hoa Kỳ luôn duy trì thặng dư lớn và vị trí này đã được duy trì 10 năm qua.

Đây là thông tin được đưa ra tại hội thảo "Cơ hội xuất khẩu thực phẩm và đồ uống sang Hoa Kỳ và những yêu cầu của Cơ quan quản lý an toàn thực phẩm, dược phẩm (FDA) đối với hàng nhập khẩu" do Cục Xúc tiến Thương mại, Bộ Công Thương, tổ chức tại TP. Hồ Chí Minh, ngày 7/6.

Thống kê từ Tổng cục Hải quan Việt Nam, tính đến cuối tháng 4/2017, kim ngạch xuất khẩu hàng Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ đạt 12,4 tỷ USD, chiếm trên 20% tổng kim ngạch hàng xuất khẩu của Việt Nam, tăng 8,7% so với cùng kỳ năm 2016.

Nhìn chung về cơ bản, cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ trong những tháng đầu năm 2017 vẫn là nhóm hàng xuất khẩu chủ lực trong những năm qua như thuỷ sản, dệt may, giày dép, gỗ và sản phẩm gỗ, máy tính, sản phẩm điện tử và linh kiện và nông sản…

Tuy nhiên, xu hướng này đang có thay đổi theo hướng giảm dần. Bởi, Việt Nam đang phải đối phó rất nhiều rào cản thương mại tự do.

Mặt khác, các doanh nghiệp Việt Nam cũng gặp khó khăn trong việc tăng năng lực sản xuất trong nước, chưa tiếp cận toàn diện, hiểu biết cặn kẽ những quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm, dược phẩm khi nhập khẩu cũng như quy trình, thủ tục vào thị trường Hoa Kỳ hiện nay cũng như trong thời gian tới.

Phân tích về những thách thức mới đối với doanh nghiệp Việt Nam khi xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ, ông David Lennarz, Phó chủ tịch Công ty Registrar Corp cho rằng, doanh nghiệp cần phải có xác minh đại diện tại Hoa Kỳ hoặc xác minh của bên thứ 3 được uỷ quyền. Cả hai trường hợp trên được áp dụng với đăng ký mới hoặc gia hạn.

FDA sẽ không xác nhận bất kỳ giao dịch nào cho tới khi cả đại diện tại Hoa Kỳ và bên thứ ba được uỷ quyền đăng ký đã xác nhận mã xác minh để đồng ý trên cương vị họ được chỉ định. Quy định này không chỉ dành cho cơ sở sản xuất trong nước mà áp dụng cho cả doanh nghiệp xuất khẩu thực phẩm vào thị trường Hoa Kỳ.

Tính từ cuối năm 2016 đến đầu năm 2017, số doanh nghiệp Việt Nam đăng ký FDA để xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ giảm giảm khoảng 45% so với thời điểm trước đó.

Nguyên nhân là do doanh nghiệp Việt Nam không có đơn vị tại Hoa Kỳ xác nhận chấp thuận làm đại diện hoặc FDA gửi email cho đại diện tại Hoa Kỳ nhưng đại diện tại Hoa Kỳ bỏ qua bước phản hồi xác nhận.

Do đó, các chuyên gia lưu ý doanh nghiệp Việt Nam, nếu số FDA đã bị huỷ bắt buộc phải đăng ký lại số mới hay hàng trước khi đến cảng, doanh nghiệp cần phải khai báo trước thông tin hàng thông qua doanh nghiệp đại diện tại Hoa Kỳ hoặc bên thứ 3 được ủy quyền.

Nguồn: TTXVN

 

Tăng kiểm tra xuất xứ ô tô nhập khẩu từ ASEAN, Ấn Độ

Email In PDF

(TBKTSG Online) - Tổng cục Hải quan vừa có văn bản yêu cầu Cục Hải quan các tỉnh, thành phố tăng cường công tác kiểm tra xuất xứ đối với mặt hàng ô tô nhập khẩu từ ASEAN và Ấn Độ áp dụng thuế suất ưu đãi đặc biệt trong khuôn khổ các hiệp định thương mại tự do Việt Nam đang thực hiện.

Tổng cục Hải quan đưa ra chỉ đạo trên trong bối cảnh ô tô nguyên chiếc nhập khầu từ khu vực ASEAN (mà cụ thể là Thái Lan và Indonesia) và Ấn Độ tăng cao trong thời gian gần đây.

Cụ thể, Tổng cục Hải quan yêu cầu khi làm thủ tục hải quan đối với mặt hàng ô tô nguyên chiếc nhập khẩu từ khu vực ASEAN và Ấn Độ áp dụng thuế suất ưu đãi đặc biệt, các đơn vị hải quan tăng cường công tác kiểm tra xuất xứ theo đúng quy định tại Thông tư 38/2015/TT-BTC; các thông tư của Bộ Công Thương hướng dẫn về C/O hưởng thuế suất ưu đãi đặc biệt; quy trình kiểm tra xác định xuất xứ ban hành kèm theo Quyết định 4286/QĐ-TCHQ của Tổng cục Hải quan và các văn bản hướng dẫn của Bộ Tài chính, theo website của Tổng cục Hải quan.

Trong đó, Tổng cục Hải quan lưu ý các Cục Hải quan kiểm tra việc đáp ứng tiêu chí xuất xứ áp dụng đối với ô tô nhập khẩu nguyên chiếc. Trường hợp có nghi vấn liên quan đến tính hợp lệ của C/O, các thông tin khai báo C/O hay xuất xứ thực tế của hàng hóa nhập khẩu, Cục Hải quan các tỉnh, thành phố phải gửi báo cáo và hồ sơ liên quan về Tổng cục Hải quan để tiến hành xác minh.

Trong thời gian chờ kết quả xác minh, hàng hóa nhập khẩu không được áp dụng thuế suất ưu đãi đặc biệt mà áp dụng theo mức thuế suất ưu đãi MFN (mức thuế suất ưu đãi được áp dụng cho các nước có mối quan hệ tối huệ quốc với Việt Nam).

Các dấu hiệu cần phải lưu ý liên quan đến tính hợp lệ của C/O như: có dấu hiệu giả mạo chữ ký, con dấu C/O, sự không phù hợp giữa thông tin về hàng hóa khai báo trên C/O với chứng từ thuộc bộ hồ sơ hải quan, nghi ngờ về tiêu chí xuất xứ trên C/O hay qua kiểm tra thực tế (nếu có) phát hiện xuất xứ thể hiện trên hàng hóa khác so với khai báo, quy định về vận chuyển trực tiếp…

Theo Tổng cục Hải quan, lượng ô tô nguyên chiếc các loại nhập khẩu trong 4 tháng đầu năm nay của cả nước đạt 33.400 chiếc, tăng 15,6% (tương đương tăng 4.500 chiếc) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chủ yếu được nhập khẩu từ Thái Lan với 12.000 chiếc, trị giá 219 triệu đô la Mỹ, tăng 18,7% về lượng và 19,9% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.

Đáng chú ý theo cơ quan hải quan, thị trường Indonesia và Ấn Độ có lượng ô tô nguyên chiếc nhập khẩu tăng đột biến vào nước ta trong 4 tháng đầu năm nay. Cụ thể, với thị trường Indonesia, Việt Nam nhập tới gần 6.000 chiếc, trị giá 102 triệu đô la Mỹ, tăng 5,3 lần về lượng và 7,6 lần về trị giá so với cùng kỳ năm ngoái; thị trường Ấn Độ với gần 5.000 chiếc, trị giá 22 triệu đô la Mỹ, tăng 1,1 lần về lượng nhưng giảm 3,5% về trị giá;…

Các chuyên gia trong ngành dự báo ô tô nhập khẩu nguyên chiếc từ Thái Lan và Indonesia sẽ tiếp tục tăng cao trong thời gian tới vì theo cam kết tại Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA), trong đó có Việt Nam, thuế suất nhập khẩu ô tô nguyên chiếc (CBU) từ các quốc gia nội khối giảm về 0% trong năm 2018 so với mức 30% của năm 2017.

Theo quy định, để hưởng mức thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt ATIGA giảm 30% trong năm nay và 0% vào năm tới, thì ô tô nguyên chiếc nhập khẩu từ khu vực ASEAN phải đại tỷ lệ nội địa hóa nội khối ít nhất 40%. Tuy nhiên trước đó, nhiều ý kiến cho rằng để được hưởng thuế suất ưu đãi đặc biệt nói trên, không ít trường hợp doanh nghiệp nhập khẩu đã gian lận, lừa đảo thương mại qua giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O). Một số doanh nghiệp lắp ráp trong nước lo ngại tình trạng làm giả giấy chứng nhận nguồn gốc xuất xứ, khai tăng hàm lượng tỷ lệ nội địa hóa trong khu vực ASEAN nhằm được hưởng ưu đãi thuế ô tô,...

Trước đó, tại cuộc họp với Bộ Công Thương, đại diện Cục Giám sát quản lý về hải quan thuộc Tổng cục Hải quan nêu thực tế: để được hưởng thuế suất ưu đãi đặc biệt (trong đó bao gồm cả ô tô), không ít trường hợp doanh nghiệp nhập khẩu đã gian lận, lừa đảo thương mại qua giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O). Đáng lo ngại là hiện tượng này ngày càng tinh vi và phức tạp.

Để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng lẫn các nhà sản xuất và lắp ráp ô tô trong nước, trước đó Phó thủ tướng Trịnh Đình Dũng cũng đã yêu cầu Bộ Tài chính phối hợp với cơ quan liên quan tăng cường quản lý chặt chẽ trị giá tính thuế, xuất xứ ô tô nguyên chiếc nhập khẩu, nhất là việc đáp ứng các tiêu chí xuất xứ của ASEAN. Qua đó nhằm bảo đảm thực hiện đúng quy định của pháp luật về thuế, chống gian lận thương mại.

Đáng chú ý trong chỉ đạo của Phó thủ tướng là việc nghiên cứu khả năng áp dụng biện pháp tự vệ thương mại khi xe ô tô nguyên chiếc nhập khẩu gia tăng đột biến và ảnh hưởng đáng kể đến sản xuất trong nước,...

Lượng nhập khẩu ô tô dưới 9 chỗ ngồi từ một số thị trường chính trong 4 tháng đầu năm 2017:

79cfd bieu5

 

Để làm ăn hiệu quả với Trung Quốc

Email In PDF

Lâu nay, trong quan hệ thương mại với Trung Quốc, nhất là trong buôn bán nông, thủy sản, Việt Nam luôn rơi vào thế bị động. Tại buổi tọa đàm “Làm thế nào kinh doanh hiệu quả với thị trường Trung Quốc?” diễn ra ở Cần Thơ cách đây chưa lâu, chuyên gia kinh tế Phan Chánh Dưỡng, giảng viên Chương trình Giảng dạy kinh tế Fulbright, nguyên Giám đốc Công ty Cholimex, đã có những ý kiến trao đổi về vấn đề này.

Đã làm ăn “thật” hay chưa?

Theo ông Phan Chánh Dưỡng, phía Việt Nam thật ra chưa có sự đầu tư tìm hiểu thị trường Trung Quốc mà chỉ quen ngồi chờ khách hàng tìm đến, và “người ta chỉ mua những thứ người ta đang thiếu, phía mình hoàn toàn bị động”.

Ông Dưỡng chia sẻ một điều ông biết chắc chắn, đó là các công ty lớn của Trung Quốc không trực tiếp mua hàng Việt Nam, vì họ cũng muốn phải có sự ký kết làm ăn lâu dài. “Không có ký kết với nhau thì họ không dám...”, ông nói.

“Như vậy, ai đang làm ăn ở Việt Nam?”. Qua kinh nghiệm bản thân, ông Dưỡng cho rằng những người thu mua nông sản ở Việt Nam bán về thị trường Trung Quốc hầu hết là những thương nhân “chạy ngoài đường”. “Họ sang Việt Nam như đi du lịch, nhìn qua nhìn lại, thấy mặt hàng nào đó có sự chênh lệch giá là bỏ tiền ra mua rồi tìm mọi cách thuê người đẩy hàng qua biên giới, bán ngay ở biên giới để hưởng chênh lệch giá, thế là xong”. Cũng theo ông Dưỡng, năm ngoái, heo của Việt Nam được giá là do Trung Quốc đẩy mạnh thu gom vì bên nước họ, heo bị dịch bệnh nên nguồn cung thiếu hụt. “Năm nay, nguồn heo tại Trung Quốc đã hồi phục, họ không cần mua nữa, thành ra nguồn cung heo của Việt Nam bị dư...”.

Trước đó, tại diễn đàn kinh tế thường niên 2017 ở Cần Thơ vào trung tuần tháng 4, ông Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Quản lý kinh tế Trung ương, cũng đề cập nhiều bài học cay đắng của Việt Nam trong quan hệ mua bán nông sản với Trung Quốc. Người Trung Quốc vào và thúc đẩy việc mua bán đối với bất kể thứ gì, từ mua đỉa, rễ cây... đến các loại quả. Dân ta thấy có nhiều người mua mặt hàng nào là đổ xô đẩy mạnh sản xuất mặt hàng đó lên một đỉnh mới. Nhưng tới lúc này thì người Trung Quốc lại đột ngột dừng mua, làm tất cả “sụp đổ”. “Tôi nghĩ đây là bài học lặp đi lặp lại đã 10 năm rồi mà dân mình học mãi vẫn không thuộc”, ông Cung nói.

Theo ông Dưỡng, cái gốc của vấn đề là do Việt Nam chưa có một chương trình “làm ăn thật”, không có bộ máy nghiên cứu thị trường. “Chúng ta chưa có những kế hoạch làm ăn lâu dài với các doanh nhân lớn của Trung Quốc, trong khi doanh nhân nhỏ của họ (khách du lịch) chỉ khai thác biên mậu nhỏ lẻ nên cũng không cần tạo mối quan hệ lâu dài. Như vậy, buôn bán biên mậu càng nhiều thì tình trạng thương nhân Trung Quốc chụp giựt sẽ càng nhiều, còn mình thì càng... tức! Bởi vậy, cần có sự nghiên cứu kỹ và tổ chức thật tốt”, ông Dưỡng nói.

Biết người mới thành công

Theo ông Dưỡng, để nắm bắt được những đặc tính, yêu cầu tiêu dùng của thị trường Trung Quốc, từ đó khai thác hiệu quả thị trường này, nhất là cho các mặt hàng nông, thủy sản, Việt Nam phải có bộ phận nghiên cứu thị trường.

Chẳng hạn với mặt hàng cà phê, dân ở hai nước thích uống trà là Trung Quốc và Ấn Độ, họ uống cà phê mà không có sẵn “gu” thưởng thức. Nếu như ta biết cách cho họ thử những hương vị cà phê của Việt Nam, thì khi họ uống quen, chắc chắn họ sẽ uống cà phê do ta “quy định”. Nhưng rất tiếc là Việt Nam đã chậm chân, để mất một thị trường láng giềng vô cùng lớn, bởi Mỹ (nhập cà phê của Việt Nam) chế “gu” Starbucks đem bán qua Trung Quốc, và 10 năm sau, vị cà phê Mỹ đã trở thành thứ ưa thích nhất của thị trường này. Theo ông Dưỡng, sự “thiệt hại” lớn này chính là do Việt Nam thiếu nghiên cứu thị trường, thiếu tổ chức thương hiệu.

Hay như việc bán cá tra, cá ba sa vào Trung Quốc, hiện các doanh nghiệp Việt áp dụng theo “quy chuẩn” bán qua thị trường Mỹ và EU, tức bán cá không da (fillet) (vì người Mỹ và các nước EU không ăn da cá), trong khi đó, người Trung Quốc lại ăn cá có da. Cũng cần biết cá bán qua Mỹ để làm thức ăn nhanh, còn bán qua Trung Quốc để chế biến lại, làm cá viên, dùng ăn lẩu...

Đó mới chỉ là một vài ví dụ. Trên thực tế, còn nhiều ngành hàng khác cần nghiên cứu để hình thành ra những quy cách gắn chặt với thị hiếu của từng thị trường, thậm chí có thể khống chế thị trường, theo ông Dưỡng.

Ngoài ra, thể chế Việt Nam và Trung Quốc khá giống nhau, trong đó Nhà nước có vai trò vô cùng lớn về kinh tế đối ngoại. Do đó, cần phải có chủ trương, chính sách, luật pháp rõ ràng từ hai phía để doanh nghiệp yên tâm hợp tác, tránh rủi ro. “Nhà nước mà không “bật đèn xanh” thì doanh nghiệp Trung Quốc không dám qua Việt Nam và doanh nghiệp Việt Nam cũng chẳng dám qua bên kia”, ông Dưỡng nói. Trong khuôn khổ chuyến thăm Trung Quốc mới đây của Chủ tịch nước Trần Đại Quang, tập đoàn Lộc Trời (Việt Nam) và Công ty TNHH Phát triển Khoa học Viên Thị Hồ Nam (Trung Quốc) đã ký kết thành lập hai công ty liên doanh ở lĩnh vực giống cây trồng và thương mại nông sản. Có thể thấy đây là trường hợp điển hình trong ký kết làm ăn từ sự “bật đèn xanh” của hai nước.

Ông Dưỡng cũng cho rằng cần xây dựng các đầu mối giao dịch tại các cửa khẩu, phát triển dịch vụ logistics tổng hợp nhằm giảm chi phí, rủi ro, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam tham gia vào thị trường Trung Quốc thông qua các đầu mối này. “Qua các đầu mối tại biên giới, doanh nghiệp Việt Nam sẽ tránh được chuyện làm ăn với thương nhân “chạy ngoài đường”. Chúng ta cũng giải quyết được những chuyện hàng nào cần mua, hàng nào cần bán và mọi người có thể đến đó để mua bán”, ông Dưỡng đề xuất.

Một giải pháp song song khác là mời các xí nghiệp chế biến của Trung Quốc đến Việt Nam hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam sản xuất hàng theo quy cách mới, phù hợp thị hiếu tiêu dùng mới của thị trường Trung Quốc, nhằm nâng giá trị cho hàng hóa Việt Nam. “Họ có thể vừa là đối tác hợp tác vừa là người mở thị trường tiêu thụ. Như vậy, cuộc làm ăn của doanh nghiệp Việt sẽ chắc chắn hơn”.

Bên cạnh đó, cần hạn chế tối đa xuất khẩu biên mậu, nhất là những mặt hàng có doanh số lớn, để không ảnh hưởng đến xuất khẩu chính ngạch; cần xây dựng văn phòng đại diện của Việt Nam tại các thị trường vùng của Trung Quốc vì họ là thị trường lớn (có đến tám trung tâm thực phẩm) và mỗi vùng như vậy có những quy cách khác nhau. “Đi sâu như vậy tức ta đã đi sâu được vào thị hiếu của thị trường, cơ hội thành công sẽ cao hơn”, ông Dưỡng nói.

Nguồn: TBKTSG Online

 
Trang 1 / 9

Hỗ trợ tư vấn

Điện thoại:
Fax:
 
(+84-24)3.557.9668
 
(+84-24)3.557.9598
Email tư vấn: info@luatsutuvan.com.vn
icon_email

Tin tức

Joomla Templates and Joomla Extensions by JoomlaVision.Com

Tổ chức liên kết

cong-chung
daugia
KK22

Liên kết website

bg_trai3