TRANG CHỦ  GIỚI THIỆU  |  DỊCH VỤ  |  DỊCH VỤ MỚI  |  TUYỂN DỤNG  |  VĂN BẢN PHÁP LUẬT  |  TIN TỨC  |  TƯ VẤN PHÁP LUẬT  |  NGHIÊN CỨU&TRAO ĐỔI  |  HỘI NHẬP QUỐC TẾ  |  HÒM THƯ GÓP Ý  |  QUYẾT ĐỊNH TRỌNG TÀI QUỐC TẾ  |  LIÊN HỆ

    English   | Tiếng Việt

TRANG CHỦ

GIỚI THIỆU

DỊCH VỤ

DỊCH VỤ MỚI

TUYỂN DỤNG

VĂN BẢN PHÁP LUẬT

TIN TỨC

TƯ VẤN PHÁP LUẬT

NGHIÊN CỨU&TRAO ĐỔI

HỘI NHẬP QUỐC TẾ

HÒM THƯ GÓP Ý

QUYẾT ĐỊNH TRỌNG TÀI QUỐC TẾ

LIÊN HỆ

KIỂM TRA MAIL

HÌNH ẢNH VĂN PHÒNG

 
  CHÀO MỪNG BẠN ĐẾN VỚI VĂN PHÒNG LUẬT SƯ ĐÀO & ĐỒNG NGHIỆP
 
Trang 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10 
Quyết định số 41, 42, 43

Quyết định số 41
TRANH CHẤP TRONG HỢP ĐỒNG LIÊN DOANH

CÁC BÊN
 Nguyên đơn: Công ty Trung Quốc
 Bị đơn:
 - Bị đơn 1: Công ty Trung Quốc
 - Bị đơn 2: Công ty Hồng Kông.

CÁC VẤN ĐỀ ĐƯỢC ĐỀ CẬP
 - Nghĩa vụ góp vốn trong liên doanh;
 - Phạt do chậm góp vốn trong liên doanh.

TÓM TẮT VỤ VIỆC
 Ngày 08/9/1997 tại Haikou, Nguyên đơn và hai Bị đơn ký kết một Hợp đồng liên doanh về việc sản xuất và quản lý máy biến thế tiết kiệm năng lượng và thiết bị điện tử tự động. Tổng giá trị đầu tư liên doanh của Hợp đồng là 650.000 USD. Nguyên đơn cam kết đóng góp 260.000 USD (tương đương 40% giá trị Hợp đồng); Bị đơn 1 đóng góp 195.000 USD (30%) và Bị đơn 2 góp 195.000 USD (30%). Mỗi bên tham gia liên doanh đều phải đóng góp đủ số tiền đầu tư tương ứng trong vòng 90 ngày sau khi thành lập Công ty liên doanh. Nếu một bên không đóng góp đúng hạn hoặc không góp đủ vốn thì hàng tháng bên vi phạm Hợp đồng đó phải trả phí tổn cho bên tuân thủ Hợp đồng 5% số vốn mà bên vi phạm Hợp đồng phải đóng góp tính từ tháng đầu tiên chậm trễ. Nếu việc góp vốn không hoàn thành trong vòng 3 tháng thì ngoài những thiệt hại tích luỹ, bên tuân thủ Hợp đồng được quyền huỷ bỏ hợp đồng và yêu cầu bên vi phạm Hợp đồng bồi thường.
 Ngày 23 tháng 11 năm 1997, Công ty liên doanh được đăng ký và tuyên bố thành lập. Cả ba bên đều phải góp vốn liên doanh trong vòng 90 ngày tới theo quy định trong Hợp đồng. Ngày 06 tháng 4 năm 1998, Hội đồng quản trị Công ty liên doanh tổ chức một cuộc họp và ký Biên bản ghi nhớ, trong đó quy định ngoài khoản góp vốn của mỗi bên, cả ba bên sẽ phải góp thêm 100.000 Nhân dân tệ theo tỷ lệ Nguyên đơn góp 40% và mỗi Bị đơn góp 30%. Trong khoảng thời gian ngắn, Bị đơn 1 sẽ cấp vốn cho khoản đầu tư bằng đô-la. Trong Biên bản phiên họp lâm thời của Hội đồng quản trị ngày 10 tháng 5 năm 1998, có ghi nhận về khoản Nhân dân tệ cần thiết để thành lập liên doanh, Hội đồng quản trị đã nhất trí rằng ba bên sẽ đưa ra thoả thuận bổ sung để góp 50.000 Nhân dân tệ cho công việc này. Trong đó, 40% sẽ do Nguyên đơn đóng góp và 30% do mỗi Bị đơn còn lại đóng góp.
 Vào ngày 20/8/1998, Hội đồng quản trị đã họp lại. Ngoài các nội dung khác, Hội đồng đã thông qua các quyết định sau:
 Phần góp vốn:
 - Bị đơn 1 góp 195.000 đô-la, việc vay thế chấp nước ngoài sẽ được giải quyết vào cuối tháng 8 và thư tín dụng sẽ được phát hành vào tháng 9 căn cứ vào tình hình sản xuất;
 - Bị đơn 2 sẽ góp 195.000 đô-la, bên cạnh việc nhập khẩu trang thiết bị, phần còn lại sẽ được sử dụng để nhập khẩu nguyên vật liệu cần gấp cho sản xuất;
 - Đến cuối tháng 8 năm 1998, bất cứ bên nào không góp vào liên doanh sẽ được coi như là việc tự động rút lui khỏi liên doanh và sẽ bị xử lý theo điều khoản của Hợp đồng liên doanh.
 Trong Biên bản phiên họp, Hội đồng quản trị không đề cập tới phần góp vốn của Nguyên đơn. Sau phiên họp, việc góp vốn không đạt được tiến triển như dự kiến, giữa các bên đã xảy ra tranh chấp. Vào ngày 29 tháng 8 năm 1999, Nguyên đơn đã đưa vụ kiện ra Trọng tài để giải quyết.
 Nguyên đơn cho rằng sau một tháng kể từ ngày thành lập liên doanh, vào ngày 13 tháng 12 năm 1997, Nguyên đơn đã nộp đơn xin vay vốn Chi nhánh Haikou của Ngân hàng Trung Quốc khoản tiền 260.000 USD để góp vốn vào liên doanh. Nguyên đơn đã đầu tư tổng cộng 234.554,92 đô-la để mua máy móc, thiết bị cho liên doanh và cung cấp nhà xưởng, nhà ở và các địa điểm khác cho liên doanh. Vì lẽ đó, Nguyên đơn đã hoàn thành nghĩa vụ Hợp đồng. Tuy nhiên, Bị đơn 2 chỉ góp 60.000 USD để mua thiết bị và Bị đơn 1 đã không góp bất cứ gì. Các Bị đơn từ chối thực hiện nghĩa vụ quy định trong hợp đồng và đã vi phạm nghiêm trọng Hợp đồng và dẫn tới tình trạng không thể quản lý được liên doanh và gây tổn hại nghiệm trọng về kinh tế cho Nguyên đơn. Do đó, Nguyên đơn đã đề nghị chấm dứt liên doanh và các Bị đơn phải trả khoản tiền sau:
 - Khoản 234.554,92 USD cộng với 42.806,08 USD đầu tư cộng với 93.814,32 Nhân dân tệ;
 - Khoản thiệt hại 58.500 USD;
 - Phí trọng tài 29.071,60 Nhân dân tệ;
 - Các chi phí phát sinh trong quá trình giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài của Nguyên đơn.
 Các Bị đơn đưa ra lý lẽ biện hộ rằng Nguyên đơn đã không góp số vốn 260.000 USD trong vòng 90 ngày kể từ ngày thành lập liên doanh nghĩa là vào ngày 23 tháng 02 năm 1998, do đó đã vi phạm Hợp đồng và vì vậy, không có quyền với tư cách là người thực hiện đúng Hợp đồng để yêu cầu đền bù thiệt hại đối với các bên trong Hợp đồng. Hơn nữa, việc đệ đơn vay vốn ngân hàng hơn 200.000 đô-la không thể được coi là việc góp vốn. Bị đơn 2 cho rằng đã thực hiện theo đúng quy định Hợp đồng là góp 71.540 đô-la cho việc mua trang thiết bị. Do Nguyên đơn và Bị đơn 1 đã không thực hiện góp vốn, do một số lý do khác Bị đơn 2 đã không thực hiện góp vốn theo đúng hạn định. Sau phiên họp ngày 20 tháng 8 năm 1998, họ đã gấp rút nhập khẩu rất nhiều các trang thiết bị cần thiết theo quyết định của Hội đồng quản trị. Bị đơn 2 đã tiếp tục mua sắm các nguyên vật liệu khi Nguyên đơn đơn phương chấm dứt Hợp đồng và yêu cầu miệng để Bị đơn 2 ngừng nhập khẩu nguyên vật liệu đó. Điều này đã khiến cho Bị đơn 2 không thể tiếp tục góp vốn và nó là nguyên nhân gây thiệt hại kinh tế cho bên này. Đại diện của cả hai bên Bị đơn cho rằng tất cả ba bên đã không thực hiện góp vốn đúng thời hạn ba tháng kể từ ngày 23 tháng 02 năm 1998. Liên doanh sẽ đương nhiên bị giải thể vào thời gian đó. Quyết định trong phiên họp của Hội đồng quản trị ngày 20 tháng 8 là thoả thuận mới và không có liên quan gì tới Hợp đồng liên doanh và trong mọi trường hợp tính pháp lý của nó là đáng ngờ.
 Theo yêu cầu của Hội đồng Trọng tài, ba bên đã tiến hành phiên họp Hội đồng quản trị vào ngày 14 và 15 tháng 5 năm 1998. Ba bên đã nhất trí mời Công ty kiểm toán Hainan để kiểm tra giá trị tài sản các bên đã góp vào liên doanh. Nguyên đơn đồng ý để chấm dứt Hợp đồng nhưng hai Bị đơn không đồng ý và yêu cầu tiếp tục liên doanh. Không có Bị đơn nào đồng ý bán tài sản và bán đấu giá các trang thiết bị hiện hành.
 Ngày 16 tháng 5 năm 1998, Hainan chấp thuận và đưa ra Bản báo cáo về kiểm tra giá trị tài sản, trong đó chỉ ra:
 - Từ ngày 13 tháng 11 đến cuối tháng 12 năm 1998, Nguyên đơn đã đóng góp 259.769,27 đô-la bao gồm 234.554,92 đô-la được đóng góp vào khoảng giữa ngày 22/2 và ngày 01 tháng 7 năm 1998;
 - Bị đơn 1 đã góp vốn hai lần 15.000 Nhân dân tệ vào ngày 17 tháng 4 và 18 tháng 4 năm 1998;
 - Bị đơn 2 góp 78.370,15 đô-la vào khoảng thời gian ngày 13 tháng 4 và ngày 14 tháng 10 năm 1998.

QUYẾT ĐỊNH CỦA TRỌNG TÀI
 Hội đồng Trọng tài quyết định:
 (i) Báo cáo của Công ty Hainan đánh giá tài sản chỉ ra rằng, sau 90 ngày kể từ ngày thành lập liên doanh, ngày 23 tháng 2 năm 1998, Nguyên đơn đã góp một phần vốn vào liên doanh, tuy nhiên cả hai Bị đơn đã không góp một phần vốn nào. Theo Hợp đồng, cả ba bên đều vi phạm, tuy nhiên cả ba bên đã không đề cập tới vấn đề này trong cuộc họp Hội đồng quản trị sau đó vào ngày 6 tháng 4 và 10 tháng 5 năm 1998, mà chỉ đề cập tới vấn đề phí bổ sung để khởi động Liên doanh. Quyết định được thông qua bởi Hội đồng quản trị ngày 20 tháng 8 năm 1998 đã hình thành một sửa đổi Hợp đồng liên doanh liên quan tới phần góp vốn của các bên.
 (ii) Theo quyết định của hội đồng ngày 20 tháng 8 năm 1998, bất cứ bên liên doanh nào không góp vốn đầu tư theo quy định của Hợp đồng sẽ được coi là tự động rút khỏi liên doanh và được giải quyết căn cứ vào các quy định của Hợp đồng. Sau đó, Nguyên đơn đã góp đủ vào liên doanh. Bị đơn 1 vi phạm Hợp đồng vì đã không góp vốn mà chỉ đưa ra 1.500 Nhân dân tệ để khởi đông Liên doanh và vì vậy phải đền bù thiệt hại đối với ba tháng theo tỉ lệ 5% của số tiền phải góp vào liên doanh: 195.000 đô-la x 5% x 3 = 29.250 đô-la cộng với tiền lãi cho 3 tháng kể từ tháng 8 đến cuối tháng 11. Đến ngày 14 tháng 10 năm 1998, Bị đơn 2 đã góp số tiền 78.370 đô-la vào Liên doanh. Đây được coi là thực hiện một phần nghĩa vụ theo quyết định của Hợp đồng ngày 20 tháng 8 năm 1998 và vi phạm một phần Hợp đồng. Vì lẽ đó, Bị đơn 2 phải đền bù cho Nguyên đơn số tiền tương ứng với thiệt hại: (19.500 -78.370,15) x 5% x 3 = 17.494,48 đô-la, cộng với tiền lãi.
 (iii) Vì hai Bị đơn đã vi phạm nghiêm trọng hay vi phạm một phần của Hợp đồng và cả ba bên liên doanh chủ yếu tranh chấp về sự tồn tại của Hợp đồng liên doanh nên sẽ không thể cùng tiếp tục liên doanh. Nguyên đơn yêu cầu chấm dứt Hợp đồng, liên doanh sẽ được giải thể và thanh lý tài sản theo luật pháp và Hợp đồng.
 (iv) Hội đồng Trọng tài không giải quyết khoản bồi thường chi phí đi lại tới Trọng tài.
 Hội đồng Trọng tài quyết định:
 -Thứ nhất: Chấm dứt Hợp đồng Công ty Liên doanh thiết bị điện. Hội đồng quản trị sẽ quyết định thành lập Hội đồng thanh lý để thanh lý tài sản, nợ và nghĩa vụ. Phần tài sản còn lại sẽ được chia cho các bên liên doanh theo tỉ lệ đóng góp thực tế của các bên.
 - Thứ hai: Bị đơn 1 phải trả 29.250 đô-la cho Nguyên đơn cộng với khoản tiền lãi theo tỉ lệ lãi hàng năm 7% từ ngày 01 tháng 12 năm 1998 tới ngày thực trả. Bị đơn 2 phải trả 17.494,48 đô-la cho Nguyên đơn, cộng với khoản tiền lãi theo tỉ lệ lãi hàng năm 7% từ ngày 01 tháng 12 năm 1998 tới ngày thực trả.
 - Thứ ba: Hai Bị đơn sẽ phải chịu phí trọng tài: Bị đơn 1 pahỉ trả 62,6%, phần còn lại do Bị đơn 2 chịu.

BÌNH LUẬN VÀ LƯU Ý
 - Đối với Hợp đồng liên doanh, nhất là hợp đồng có nhiều bên tham gia, các bên cần quy định chặt chẽ, cụ thể và chi tiết nghĩa vụ của từng bên không những về mức góp vốn, phương tiện và thời gian góp vốn mà còn từng loại chế tài đối với từng loại hành vi vi phạm. Tuy nhiên, một khi đã ký hợp đồng tham gia góp vốn trong liên doanh, các bên cũng phải chuẩn bị đầy đủ nguồn tài chính để có thể góp vốn đúng tiến độ. Nếu không có nguồn tài chính đầy đủ mà đặt bút ký hợp đồng được coi là sự mạo hiểm và đầy rủi ro, khi đó bên vi phạm không những phải gánh chịu các chế tài mà liên doanh còn có nguy cơ tan vỡ. Điều này sẽ gây ra rất nhiều tổn thất về thời gian và tiền bạc cho các bên.
 - Trong liên doanh, nghĩa vụ của các bên liên quan mật thiết với nhau; trong rất nhiều trường hợp, việc thực hiện nghĩa vụ của bên này lại là tiền đề cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên kia. Bởi vậy, muốn có một liên doanh tồn tại bền vững và hoạt động có hiệu quả, các bên cần hết sức coi trọng việc thực hiện đầy đủ và đúng thời hạn các nghĩa vụ của mình.
 - Sau khi ký Hợp đồng liên doanh và một liên doanh đã được hình thành, thì cần nhớ rằng Hội đồng quản trị là cơ quan đại diện cao nhất của liên doanh, và quyết định của Hội đồng quản trị chính là quyết định của liên doanh mà các bên tham gia phải tuân thủ, dù quyết định này được ban hành tại thời điểm nào trong thời gian tồn tại liên doanh.


Quyết định số 42
TRANH CHẤP TRONG HỢP ĐỒNG TRAO ĐỔI THƯƠNG MẠI

CÁC BÊN
 Nguyên đơn: Công ty Trung Quốc
 Bị đơn: Công ty Đức

VẤN ĐỀ ĐƯỢC ĐỀ CẬP
 Huỷ hợp đồng

TÓM TẮT VỤ VIỆC
 Nguyên đơn và Bị đơn đã ký kết Thoả thuận trao đổi hàng hoá thương mại, một Hợp đồng nhập khẩu thiết bị khai thác mỏ và một Hợp đồng trao đổi hàng hoá thương mại để mua lại các sản phẩm khai thác vào ngày 02 tháng 10 năm 1987. Theo bản Thoả thuận và hai Hợp đồng, Bị đơn sẽ cung cấp một lô thiết bị khai thác mỏ và công nghệ để chế tác đá cẩm thạch màu trắng tại Huhehaote. Ngược lại, Nguyên đơn sẽ thanh toán những thiết bị, công nghệ và các lợi ích liên quan này bằng các lô nguyên liệu đá cẩm thạch. Hợp đồng cũng chỉ ra rằng, sau khi Hợp đồng có hiệu lực, Bị đơn sẽ phải uỷ thác cho ngân hàng địa phương để phát hành chứng thư bảo đảm không huỷ ngang dưới tên của Nguyên đơn có giá trị bằng 15% giá trị Hợp đồng. Trong vòng sáu tháng sau khi chấp nhận và phê chuẩn thư bảo lãnh, Bị đơn sẽ phải giao hàng và Nguyên đơn sẽ hoàn lại khoản ký thác. Vào ngày 08 tháng 3 năm 1988, cả Thoả thuận và Hợp đồng đều được chấp thuận và bắt đầu có hiệu lực.
 Sau đó, Bị đơn phát hành Thư bảo đảm nhưng nội dung và hình thức không tuân thủ theo yêu cầu của Nguyên đơn. Sau nhiều cuộc hội đàm giữa hai bên, Chứng thư bảo đảm mới đã được phát hành vào ngày 30 tháng 9 năm 1988. Trong thời gian đó, vào ngày 12 tháng 9, thông qua khảo sát của chuyên gia, người ta chắc chắn rằng mỏ khai thác gặp phải những trục trặc nghiêm trọng và không thể tiến hành khai thác được. Thông qua sự xác nhận của các bên liên quan, Nguyên đơn nhận được thông báo chính thức vào ngày 09 tháng 10 rằng có những vấn đề nghiêm trọng đối với địa chất của mỏ khai thác. Vào ngày 24 tháng 10 và 02 tháng 11, Nguyên đơn đã gửi điện để thông báo cho Bị đơn về những vấn đề nghiêm trọng đối với địa chất mỏ khai thác và mốn đi đến giải quyết vụ việc thông qua hội đàm, thương lượng. Mặc dù đã tiến hành thương lượng nhưng hai bên không đi đến được một thoả thuận nào. Vào ngày 03 tháng 12 năm 1988, Nguyên đơn đã đệ trình vụ việc lên Hội đồng Trọng tài. Nguyên đơn yêu cầu huỷ Hợp đồng trên cơ sở Chứng thư bảo lãnh của Bị đơn phát hành không đáp ứng được yêu cầu của Hợp đồng giữa hai bên.
 Bị đơn đã kiện lại bằng cách yêu cầu Nguyên đơn phải bồi thường những tổn hại khi Nguyên đơn huỷ bỏ Hợp đồng. Khoản tiền này bao gồm phí ngân hàng là 12.845,92 Mác, chi phí đi lại là 78.838,26 Mác, thiệt hại do sản xuất thiết bị khai thác mỏ là 334.733,03 Mác, thiệt hại về lợi nhuận là 204.300 Mác bao gồm chi phí pháp lý và chi phí trọng tài.
 Lập luận của Nguyên đơn:
 - Trên bề mặt của tờ Chứng thư bảo lãnh do Bị đơn phát hành vào ngày 18 tháng 9 năm 1988 đã không thể hiện nội dung “không huỷ ngang”, là vi phạm các điều khoản của Hợp đồng. Nguyên đơn đã không nhận được bất cứ Chứng thư bảo đảm nào ngoài chứng thư này. Chính vì lẽ đó, Bị đơn đã vi phạm Hợp đồng trước và Nguyên đơn được quyền huỷ bỏ Hợp đồng này.
 - Nguyên đơn thừa nhận một thực tế là do có sự thay đổi về địa chất mỏ khai thác nên không thực hiện được Hợp đồng. Tuy nhiên, Bị đơn cũng phải có một phần trách nhiệm trong đó. Trước khi tiến hành dự án, chuyên gia của Bị đơn đã tới mỏ và xác nhận rằng mỏ này ở trong tình trạng tốt về điều kiện, chất lượng và màu sắc của đá cẩm thạch tại mỏ và cho rằng việc khai thác mỏ là hợp lý và có hiệu quả. Theo đó, hai bên đã ký kết một Bản ghi nhớ. Vì lẽ đó, Bị đơn phải chịu một phần trách nhiệm đối với vấn đề xảy ra với Nguyên đơn.
- Hợp đồng quy định, trong vòng 06 tháng kể từ ngày nhận được khoản ký quỹ, Bị đơn phải bàn giao thiết bị cho Nguyên đơn. Khoảng thời gian 06 tháng mà Bị đơn đưa ra là khoảng thời gian hợp lý để sản xuất các thiết bị. Đó là quyết định của Bị đơn sản xuất thiết bị trước khi Nguyên đơn nhận được khoản ký thác. Theo quy định của luật thì Nguyên đơn không chịu trách nhiệm về việc đó. Thêm vào đó, thiết bị đó là loại thiết bị khai thác mỏ thông thường, là loại hàng hoá thông thường chứ không phải là hàng hoá riêng biệt. Những thiết bị đó sau khi sản xuất vấn có thể bán được ra thị trường nếu một bộ phận nhỏ của máy điện được thay đổi. Vì lẽ đó, thiệt hại xảy ra nếu có sẽ là rất nhỏ.
Lập luận của Bị đơn:
- Bị đơn đã phát hành Thư bảo đảm vào ngày 30 tháng 9 năm 1988 và đã gửi điện báo thư này tới trụ sở của Ngân hàng Trung Quốc. Trong đó, Bị đơn cũng yêu cầu Ngân hàng Trung Quốc gửi bức điện này tới Chi nhánh Huhehaote. Những liên lạc sau đó giữa ngân hàng địa phương của Bị đơn và Chi nhánh Huhehaote, Ngân hàng Trung Quốc cũng chứng tỏ rằng Chi nhánh Huhehaote, Ngân hàng Trung Quốc đã nhận được Thư bảo đảm. Việc rút lại Thư bảo đảm ký thác vào năm 1989 chứng minh rằng Bị đơn đã thực hiện nghĩa vụ của mình trong việc phát hành Thư bảo đảm để ký thác theo quy định của Hợp đồng.
- Hợp đồng mua lại quy định rõ rằng, Nguyên đơn chịu trách nhiệm về chất lượng của đá cẩm thạch. Trong suốt quá trình bàn bạc, trao đổi cũng như trong mọi văn bản Hợp đồng đều không có một điểm nào chỉ ra rằng Bị đơn sẽ phải chịu trách nhiệm về chất lượng của đá cẩm thạch. Mặt khác, đây là Thoả thuận trao đổi hàng hoá chứ không phải là hợp tác cùng khai thác. Theo Bản ghi nhớ đã được ký kết giữa các bên, Bị đơn chịu trách nhiệm về việc nghiên cứu thị trường nhằm mục đích bán đá cẩm thạch ra thị trường nước ngoài theo sự thoả thuận giữa các bên, chứ không phải chịu trách nhiệm về việc nghiên cứu chất lượng của đá cẩm thạch. Chất lượng của hàng hoá là điều kiện tiên quyết cho việc nghiên cứu và được bảo đảm bởi Nguyên đơn. Bị đơn đã tới hai mỏ đá cẩm thạch và nhận thấy đá cẩm thạch ở đó tốt. Tại Bắc Kinh, Bị đơn đã trao đổi với Nguyên đơn về lý do tại sao đá cẩm thạch không được sử dụng nhưng Nguyên đơn đã đề nghị huỷ bỏ Hợp đồng và từ chối trao đổi về vấn đề này.
- Để giao hàng trước thời hạn dự kiến, cần phải tiến hành sản xuất theo đơn đặt hàng vào tháng 7 năm 1988. Nếu như các nhà thầu phụ chấp nhận các chỉ định khác, các thiết bị sẽ không thể sản xuất theo đúng thời hạn. Bị đơn buộc phải thực hiện Hợp đồng một khi Hợp đồng đã được ký kết và mọi hành vi của Bị đơn đều phải tuân theo luật định. Tháng 7 năm 1988, Bị đơn đã đặt hàng một số nhà thầu phụ. Trước khi xác nhận không thể thực hiện Hợp đồng, 85% công việc sản xuất thiết bị đã hoàn thành. Các thiết bị này được sản xuất dành riêng cho Nguyên đơn - người mua loại thiết bị này vì chỉ có các khách hàng Trung Quốc mới sử dụng năng lượng điện trong khi khách hàng các nước khác sử dụng dầu điêzen.Kể từ đó không có khách hàng Trung Quốc nào đặt mua hàng và hàng được đặt cũng không thể bán lại cũng như huỷ bỏ. Một phần các bộ phận có thể tái sử dụng, phần còn lại chỉ có thể bán với giá sắt vụn. Nguyên đơn phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại mà các nhà thầu phụ sản xuất các trang thiết bị đã phải gánh chịu.

QUYẾT ĐỊNH CỦA TRỌNG TÀI
 (i) Ngày 30 tháng 9 năm 1988, Bị đơn đã phát hành Thư bảo đảm bằng điện tín. Mặc dù bức điện mang số của Chi nhánh Bắc Kinh, Ngân hàng Trung Quốc nhưng nội dung của bức điện đã yêu cầu người nhận bức điện tiếp tục chuyển bức điện tới Chi nhánh Huhehaote, Ngân hàng Trung Quốc. Đầu năm 1989, Chi nhánh Huhehaote đã trả lại Bị đơn Thư bảo đảm này. Điều đó chứng tỏ Chi nhánh Huhehaote đã nhận được Tín dụng thư. Do đó, việc Bị đơn thực hiện nghĩa vụ của mình trong việc phát hành Thư bảo đảm được xác nhận.
 Lý do đơn giản của việc thực hiện Hợp đồng bị thất bại là do điều kiện địa chất của hầm mỏ không đảm bảo để có thể khai thác đá cẩm thạch chứ không phải vấn đề về Thư bảo đảm của Bị đơn. Vì vậy, việc đề nghị huỷ bỏ Hợp đồng của Nguyên đơn với lý do vấn đề về Thư bảo đảm là thiếu căn cứ. Lý do thực tế của việc huỷ bỏ Hợp đồng là sự thay đổi về điều kiện địa chất của hầm mỏ và điều này được minh chứng trong nội dung các bức điện mà Nguyên đơn đã gửi cho Bị đơn vào ngày 24 tháng 10 năm 1988 và ngày 2 tháng 11 năm 1988. Những bức điện này thông báo cho Bị đơn biết về:
 - Những bất lợi về điều kiện địa chất của hầm mỏ;
 - Không thể thu được lợi nhuận kinh tế từ việc khai thác đá cẩm thạch;
 - Những chi phí của Bị đơn cần được trao đổi lại.
 Lý do huỷ bỏ Hợp đồng căn cứ vào vấn đề về Thư bảo đảm đã không được đưa ra cho đến khi Nguyên đơn đệ Đơn kiện lên Trọng tài. Điều kiện địa chất của hầm mỏ không cho phép khai thác đá cẩm thạch đồng nghĩa với việc không bên nào có thể thu được lợi nhuận kinh tế từ việc thực hiện Hợp đồng sau đó trong khi có thể huỷ bỏ Hợp đồng, nhưng không thể miễn cho bên nào trách nhiệm về những thiệt hại có thể xảy ra.
 (ii) Liên quan đến vấn đề bên nào phải chịu trách nhiệm về sai lầm trong việc lựa chọn hầm mỏ, Bị đơn cho rằng, Nguyên đơn phải chịu trách nhiệm về chất lượng của đá cẩm thạch theo đúng như quy định trong Hợp đồng. Nguyên đơn khăng khăng rằng trước khi ký kết hợp đồng, Bị đơn đã đến xem, nghiên cứu về hầm mỏ và xác nhận giá trị của việc khai thác hầm mỏ. Vì vậy, nay xảy ra vấn đề liên quan đến hầm mỏ thì Bị đơn cũng phải chịu phần trách nhiệm nào đó.
 Hội đồng Trọng tài quyết định rằng, vụ kiện liên quan tới giao dịch mang tính chất đền bù chứ không phải là hợp tác cùng khai thác đá cẩm thạch. Nghĩa vụ của Bị đơn là cung cấp thiết bị. Trách nhiệm của Nguyên đơn là thanh toán cho việc mua các thiết bị này bằng việc cung cấp đá cẩm thạch đã được chế tạo. Chất lượng của đá cẩm thạch do Nguyên đơn trả có thể được quyết định bằng các tiêu chuẩn và hàng mẫu mà hai bên đã thoả thuận, nhưng đồng thời chất lượng của đá cẩm thạch cũng liên quan trực tiếp tới mỏ đá. Nguyên đơn đã quyết định khai thác mỏ đá và bán khoáng vật dưới hình thức trao đổi hàng hoá mà không tổ chức khảo sát kỹ lưỡng về mỏ đá. Khi Hợp đồng được ký kết, báo cáo đánh giá chi tiết về khảo sát địa chất đã được kiểm chứng. Thực ra việc Bị đơn đã xác nhận hàng mẫu đá cẩm thạch và đến xem khu vực mỏ đá không đồng nghĩa với việc xác nhận địa chất của mỏ đá. Nếu không tiến hành khai thác thử thì Bị đơn không thể khảo sát địa chất của mỏ và thực tế là Bị đơn đã không thực hiện. Về mặt pháp lý, Bị đơn không có nghĩa vụ phải đảm bảo vấn đề tiềm năng khai thác mỏ đá. Vì vậy, Nguyên đơn phải chịu trách nhiệm cho việc không thực hiện Hợp đồng do vấn đề về địa chất của mỏ đá.
 Tuy nhiên, những thiệt hại của một bên do không thực hiện Hợp đồng xuất phát từ nguyên nhân về vấn đề của mỏ đá khác với việc cố ý vi phạm Hợp đồng của bên đó. Điều kiện địa chất của mỏ đá vượt ra ngoài khả năng kiểm soát của Nguyên đơn. Lỗi của Nguyên đơn là đã không điều tra kỹ lưỡng về tính khả thi của dự án trên cơ sở điều tra về địa chất. Trách nhiệm pháp lý mà Nguyên đơn lẽ ra phải chịu là rất hạn chế và sẽ ít hơn so với việc cố ý vi phạm Hợp đồng. Do đó, việc Bị đơn phản tố đòi đền bù cho những thiệt hại về những lợi nhuận mong đợi sẽ không được xem xét.
 (iii) Khi Hợp đồng được ký kết, cả hai bên đều buộc phải tiến hành thực hiện Hợp đồng. Việc Bị đơn đặt hàng các nhà thầu phụ không vi phạm Hợp đồng cũng như pháp luật. Hợp đồng chỉ quy định thời gian giao hàng chứ không quy định thời điểm Bị đơn phải bắt đầu sản xuất thiết bị. Pháp luật cũng không quy định việc chuẩn bị hàng phải bắt đầu sau khi nhận được ký thác, do vậy, việc Bị đơn đặt hàng không vi phạm Hợp đồng. Thời gian giao hàng được ấn định là 06 tháng sau khi Bị đơn nhận được ký thác. Hạn định về thời gian này không phải là một thời điểm cụ thể sau khi Hợp đồng được ký kết hay thời điểm đã được định trước và Bị đơn có đủ thời gian để sản xuất hàng hoá sau khi nhận được ký thác. Vì Bị đơn đặt hàng các thiết bị quá sớm nên đã không thể khắc phục được tình trạng khi nhận được thông báo về vấn đề địa chất của mỏ đá. Do vậy, Bị đơn cũng phải chịu một phần trách nhiệm cho những thiệt hại trong việc chuẩn bị hàng.
 Hội đồng Trọng tài quyết định:
 Thứ nhất: Các Hợp đồng giữa Nguyên đơn và Bị đơn bị huỷ bỏ.
 Thứ hai: Nguyên đơn phải bồi thường 225.000 Mác Đưc cho Bị đơn vì những thiệt hại kinh tế do việc huỷ bỏ hợp đồng.
 Thứ ba: Hai bên đều phải trả phí trọng tài, trong đó Nguyên đơn chịu 75% và Bị đơn chịu 25%.

BÌNH LUẬN VÀ LƯU Ý.
  Đối với Hợp đồng khai thác khoáng sản thì công tác nghiên cứu, khảo sát địa chất và trữ lượng là vô cùng quan trọng. Nếu công tác này không được tiến hành kỹ lưỡng thì rất dễ gặp rủi ro không những gây thiệt hại về kinh tế mà còn có thể ảnh hưởng đến tính mạng của con người. Trong vụ việc trên, nguyên nhân chính dẫn đến tranh chấp là Nguyên đơn đã không tiến hành khảo sát địa chất hầm mỏ nên không thể khai thác được.
 Các bên cũng cần lưu ý rằng, Hợp đồng giữa Nguyên đơn và Bị đơn là Hợp đồng trao đổi hàng hoá chứ không phải Hợp đồng hợp tác kinh doanh. Các quy định về trách nhiệm của mỗi bên đã được quy định rất rõ trong Hợp đồng. Cụ thể, Bị đơn có trách nhiệm giao thiết bị khai thác mỏ cho Nguyên đơn và có trách nhiệm tìm kiếm thị trường. Ngược lại, Nguyên đơn có trách nhiệm thanh toán tiền thiết bị cho Bị đơn thông qua việc cung cấp đá cho Bị đơn. Với quy định như vậy, trách nhiệm điều tra, khảo sát, khai thác mỏ hoàn toàn thuộc về Nguyên đơn. Nguyên đơn chỉ có thể đòi Bị đơn bồi thường thiệt hại khi Bị đơn giao thiết bị không đúng tiêu chuẩn làm cho thiết bị không vận hành được. Tuy nhiên, trong thực tế, đây không phải là nguyên nhân chính dẫn đến tranh chấp, do vậy, Bị đơn được miễn trách nhiệm đối với thiệt hại của Nguyên đơn và có quyền đòi Nguyên đơn phải bồi thường các thiệt hại phát sinh.


Quyết định số 43
TRANH CHẤP TRONG HỢP ĐỒNG LI-XĂNG

CÁC BÊN
 Nguyên đơn:
 Nguyên đơn 1: Chủ bằng sáng chế người Đức
 Nguyên đơn 2: Bên chịu trách nhiệm về việc phân phối hệ thống sáng chế do Nguyên đơn 1 làm người điều hành
 Bị đơn: Công ty nhận li-xăng sáng chế - Công ty Pháp

CÁC VẤN ĐỀ ĐƯỢC ĐỀ CẬP
 - Thẩm quyền xử lý tranh chấp của Trọng tài khi điều khoản trọng tài không rõ ràng;
 - Phân biệt thẩm quyền xét xử của Trọng tài và thẩm quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Toà án;
 - Trọng tài có quyền xét xử một tranh chấp liên quan đến việc khai thác sáng chế không?

TÓM TẮT VỤ VIỆC
 Nguyên đơn 1 ký Hợp đồng li-xăng độc quyền với Bị đơn để cho phép Công ty này sản xuất và bán sản phẩm gắn với hai bằng sáng chế đã được bảo hộ trên lãnh thổ Pháp. Đổi lại, Bị đơn sẽ phải trả cho chủ sở hữu bằng sáng chế một khoản tiền phí li-xăng và cam kết bảo đảm thực hiện một mức doanh thu tối thiểu trên thị trường này đối với các sản phẩm đó.
 Nguyên đơn 2 chịu trách nhiệm về việc phân phối hệ thống sáng chế của chủ sở hữu bằng sáng chế. Cũng theo Hợp đồng li-xăng nói trên, Bị đơn được phép sử dụng mạng lưới phân phối sẵn có của Nguyên đơn 2.
 Trong quá trình thực hiện Hợp đồng, Nguyên đơn 1 đã chuyển giao toàn bộ các quyền liên quan đến sáng chế của mình cho Nguyên đơn 2.
 Sau đó, do việc thương mại hoá sản phẩm mới liên quan đến hai bằng sáng chế nói trên của Nguyên đơn 1 và Nguyên đơn 2 không được thuận lợi, Bị đơn lại không thiện chí chủ động thực hiện nghĩa vụ theo Hợp đồng nên tranh chấp đã phát sinh.
 Nguyên đơn 1 và Nguyên đơn 2 đã kiện Bị đơn ra Trọng tài theo điều khoản trọng tài trong Hợp đồng li-xăng và các bên cũng đã cùng nhau chỉ định các Trọng tài viên để thành lập Hội đồng Trọng tài. Nhưng sau đó, Bị đơn đã đưa ra rất nhiều lập luận để phản đối thẩm quyền xét xử của Trọng tài trong vụ việc này.
QUYẾT ĐỊNH CỦA TRỌNG TÀI
 (i) Về việc thoả thuận trọng tài ghi không đầy đủ tên gọi của tổ chức trọng tài
 Thoả thuận trọng tài trong Hợp đồng giữa các bên ghi Trung tâm trọng tài có thẩm quyền xử lý tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng là “Phòng Thương mại Paris”. Trong khi đó, trên thực tế tên đầy đủ của tổ chức trọng tài này phải là “Phòng Thương mại Quốc tế Paris” (ICC).
 Các Nguyên đơn cho rằng, như vậy có nghĩa là Phòng Thương mại Quốc tế Paris không có thẩm quyền xét xử vụ việc. Do đó, Hội đồng Trọng tài được ICC thành lập cho vụ việc này sẽ đương nhiên không có thẩm quyền.
 Trước lập luận này, Trọng tài trước hết phải xử lý vấn đề: Nếu có tranh cãi về thẩm quyền của Trọng tài thì ai sẽ là người quyết định Trọng tài có thẩm quyền hay không? Áp dụng nguyên tắc cơ bản của tất cả các thủ tục tố tụng trọng tài, nguyên tắc “thẩm quyền về thẩm quyền” (tức là trọng tài có thẩm quyền xem xét chính vấn đề mình có thẩm quyền xét xử vụ tranh chấp hay không), Hội đồng Trọng tài thành lập trong vụ việc này đã quyết định sẽ xem xét và kết luận về lập luận nói trên của Bị đơn.
 Trên cơ sở phân tích các tài liệu do Bị đơn soạn ra trong quá trình các bên ký kết Hợp đồng, xét đến quốc tịch và nơi cư trú khác nhau của các bên tham gia Hợp đồng và xét đến vị trí thương nhân của các bên cũng như tính chất của Hợp đồng, theo Trọng tài, việc thiếu từ “Quốc tế” trong cụm từ “Phòng Thương mại Quốc tế Paris” rõ ràng là một lỗi thuần tuý kỹ thuật và ý chí chung của các bên rõ ràng là để tranh chấp được xét xử bởi “Phòng Thương mại Quốc tế Paris”. Xin lưu ý thêm là ở Paris chỉ có đúng một tổ chức trọng tài này là có thẩm quyền xét xử các tranh chấp có yếu tố nước ngoài.
 Trước quan điểm này của Trọng tài, Bị đơn lập luận rằng tranh chấp của mình hoàn toàn không liên quan đến thương mại quốc tế bởi, Nguyên đơn 1 không phải là một thương nhân và Hợp đồng giữa các bên là một hợp đồng dân sự thuần tuý (và tranh chấp từ một hợp đồng dân sự thuần tuý thì không thể do Trọng tài xét xử mà phải được đưa ra Toà án).

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ ĐÀO VÀ ĐỒNG NGHIỆP LÀ NGƯỜI BẠN TIN CẬY CỦA KHÁCH HÀNG




 

Bản quyền thuộc về Văn phòng Luật sư Đào và Đồng nghiệp.

Địa chỉ : Số 45 Ngõ 90, Khuất Duy Tiến, Thanh Xuân, Hà Nội

Điện thoại : 043.554.3923 Fax: 043.554.3924  Hotline: 0913.347.747

may chieu, May chieu, May Chieu may phat dien, May phat dien, May Phat Dien may chieu, May chieu, May Chieu may phat dien, May phat dien, May Phat Dien may tinh xach tay, May tinh xach tay, May Tinh Xach Tay may anh so,May anh so,May anh kts, May Anh So
may chieu, May chieu, May Chieu may phat dien, May phat dien, May Phat Dien may chieu, May chieu, May Chieu may phat dien, May phat dien, May Phat Dien may tinh xach tay, May tinh xach tay, May Tinh Xach Tay may anh so,May anh so,May anh kts, May Anh So May cham cong,may cham cong Thuoc thu y,thuoc thu y