Để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu pháp luật của bạn đọc trên báo viết. Văn phòng Luật sư Đào và Đồng nghiệp cộng tác với Báo pháp luật Việt Nam cùng thực hiện chuyên mục Giải đáp Pháp luật. Thông qua chuyên mục này, Văn phòng hy vọng giúp được độc giả giải đáp được những thắc mắc gắn liền với cuộc sống hàng ngày có liên quan đến pháp luật. Sau đây, xin trích đăng một số tình huống:
Báo ngày 29/7/2009
Câu 1:
Hiện nay, trong xã hội tình trạng lạm dụng việc sử dụng lao động chưa thành niên rất phổ biến. Pháp luật quy định những công việc nào được sử dụng, công việc nào cấm sử dụng người lao động chưa thành niên?
Trả lời:
Theo quy định của Bộ luật lao động, tại Điều 121:
- Người sử dụng lao động chỉ được sử dụng người lao động chưa thành niên vào những công việc phù hợp với sức khoẻ để bảo đảm sự pháp triển thể lực, trí lực, nhân cách và có trách nhiệm quan tâm chăm sóc người lao động chưa thành niên về các mặt lao động, tiền lương, sức khoẻ, học tập trong quá trình lao động.
- Cấm sử dụng người lao động chưa thành niên làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại hoặc chỗ làm việc, công việc ảnh hưởng xấu tới nhân cách của họ theo danh mục Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành.
Câu 2:
Em trai tôi có liên quan đến một vụ ẩu đả cùng nhóm bạn và gây ra án mạng. Hiện tại, em tôi bị tạm giam để điều tra. Vậy cho tôi hỏi pháp luật quy định như thế nào về thời hạn tạm giam để điều tra?
Trả lời:
Thời hạn tạm giam để điều tra phụ thuộc vào loại tội phạm mà bị can bị khởi tố:
- Đối với tội phạm ít nghiêm trọng, thời hạn tạm giam để điều tra không quá 2 tháng và có thể được gia hạn một lần không quá 3 tháng.
- Đối với tội phạm nghiêm trọng, thời hạn tạm giam để điều tra không quá 3 tháng và có thể được gia hạn hai lần, lần một không quá 2 tháng, lần hai không quá 1 tháng.
- Đối với tội phạm rất nghiêm trọng, thời hạn để điều tra không quá 4 tháng và có thể được gia hạn hai lần, lần một không quá 3 tháng, lần hai không quá 2 tháng.
- Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, thời hạn tạm giam để điều tra không quá 4 tháng và có thể được gia hạn ba lần, mỗi lần không quá 4 tháng.
- Đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia có thể gia hạn thêm một lần nữa không quá 4 tháng.
- Trường hợp đang điều tra vụ án mà xác định được bị can phạm tội nặng hơn thì thời hạn tạm giam đối với bị can được tính theo tội nặng hơn trừ đi thời hạn đã tạm giam.
- Trường hợp đang điều tra vụ án mà lại khởi tố về một tội phạm khác thì thời hạn tạm giam bị can (kể cả gia hạn) hoặc bị can không bị tạm giam về tội phạm khởi tố trước mà xét cần tạm giam để điều tra tội phạm khởi tố sau thì ra lệnh tạm giam bị can về tội phạm đó.
Câu 3:
Pháp luật quy định như thế nào về kháng cáo quá hạn? Nếu như kháng cáo quá hạn thì có thể được cơ quan có thẩm quyền xem xét giải quyết hay không?
Trả lời:
Kháng cáo quá hạn: Là kháng cáo quá thời hạn quy định tại Điều 245 của bộ luật Tố tụng Dân sự. Sau khi nhận được đơn kháng cáo quá hạn, toà án cấp sơ thẩm phải gửi đơn kháng cáo, bản tường trình của người kháng cáo về lý do kháng cáo quá hạn và tài liệu, chứng cứ nếu có cho toà án cấp phúc thẩm.
Kháng cáo quá hạn có thể được xét xử giải quyết: Theo quy định tại Điều 247 Bộ luật Tố tụng Dân sự thì trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được đơn kháng cáo quá hạn và tài liệu, căn cứ kèm theo, toà án cấp phúc thẩm thành lập hội đồng gồm 3 thẩm phán để xem xét kháng cáo quá hạn. Hội đồng có quyền ra quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn và phải ghi rõ lý do của việc chấp nhận hoặc không chấp nhận trong quyết định.
Toà án cấp phúc thẩm phải gửi quyết định cho người kháng cáo quá hạn và toà án cấp sơ thẩm, nếu toà án cấp phúc thẩm nhận việc kháng cáo quá hạn thì toà án cấp sơ thẩm phải tiến hành các thủ tục do Bộ luật tố tụng Dân sự quy định và gửi hồ sơ vụ án cho Toà án cấp phúc thẩm.
Câu 4:
Một bản di chúc được lập bằng văn bản không có người làm chứng thì giá trị pháp lý về hình thức không? Trong những trường hợp nào thì di chúc hợp pháp?
Trả lời:
Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng có giá trị pháp lý về hình thức theo quy định tại khoản 1 Điều 650 BLDS 2005.
Trong các trường hợp sau đây di chúc được coi là hợp pháp:
1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;
b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.
2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hội đồng ý.
3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.
4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp nếu có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 652.
5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngàyt người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực.
Câu 5:
Anh Văn (Hà Nội) hỏi: Tôi đang làm thủ tục mua một ngôi nhà trên đường Phạm Ngọc Thạch, Đống Đa, Hà Nội nhưng chưa hoàn tất. Trong đợt lũ vừa qua, hiện trạng ngôi nhà bị suy cấp khá nhiều. Tôi đã đề nghị bên bán phải giảm tiền nhà hoặc hỗ trợ tiền sửa lại ngôi nhà, khắc phục rủi ro nhưng họ cho rằng đã bán cho tôi rồi thì rủi ro đó tôi phải chịu? Như vậy có đúng quy định của pháp luật không?
Trả lời:
Về thời điểm chịu rủi ro, Bộ luật Dân sự 2005 có quy định tại Khoản 2 Điều 440 :
Đối với hợp đồng mua bán tài sản mà pháp luật quy định tài sản đó phải đăng ký quyền sở hữu thì bên bán chịu rủi ro cho đến khi hoàn thành thủ tục đăng ký, bên mua chịu rủi ro kể từ thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký, kể cả khi bên mua chưa nhận tài sản, nếu không có thoả thuận khác.
Vậy đối với trường hợp của anh nếu chưa hoàn thành thủ tục đăng ký quyền sở hữu thì bên bán chịu rủi ro cho đến khi hoàn thành thủ tục đăng ký, nếu hai bên không có thoả thuận khác.
Đăng báo ngày 4/8/2009
Câu 1:
Những vụ án dân sự nào không được hoà giải? Những vụ án dân sự nào không tiến hành hoà giải được?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 181 Bộ luật tố tụng dân sự những vụ án dân sự sau đây không được hoà giải:
- Yêu cầu đòi bồi thường gây thiệt hại đến tài sản của nhà nước.
- Những vụ án dân sự phát sinh từ giao dịch trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội.
Những vụ án không tiến hành hoà giải được được quy định cụ thể tại Điều 182 Bộ luật tố tụng dân sự:
- Bị đơn đã được toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vấn cố tình vắng mặt.
- Đương sự không thể tham gia hoà giải được vì có lý do chính đáng.
- Đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lự hành vi dân sự.
Câu 2:
Vợ chồng tôi có lập một di chúc chung cách đây 2 năm. Hiện nay, vợ tôi đã mất rồi nhưng tôi muốn sửa đổi một phần nội dung di chúc liệu có được không?
Trả lời:
Việc sửa đổi nội dung di chúc chung của vợ, chồng được quy định cụ thể tại Điều 664 Bộ luật Dân sự 2005:
1. Vợ, chồng có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung bất cứ lúc nào.
2. Khi vợ hoặc chồng muốn sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung thì phải được sự đồng ý của người kia; nếu một người đã chết thì người kia chỉ có thể sửa đổi, bổ sung di chúc liên quan đến phần tài sản của mình.
Vậy đối với trường hợp của ông, nếu ông sửa đổi một phần của di chúc mà liên quan đến phần tài sản của ông thì di chúc đó vẫn có giá trị.
Câu 3:
Hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có khác nhau không? Pháp luật quy định cụ thể về vấn đề này như thế nào?
Trả lời:
Hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là hai loại hợp đồng khác nhau. Pháp luật quy định cụ thể như sau:
Tại Điều 693 BLDS 2005: Hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó các bên chuyển giao đất và chuyển giao quyền sử dụng đất cho nhau theo quy định của Bộ luật dân sự và pháp luật về đất đai.
Tại Điều 697 BLDS 2005:Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất chuyển giao đất và quyền sử dụng đất cho bên nhận chuyển nhượng, còn bên nhận chuyển nhượng trả tiền cho bên chuyển nhượng theo quy định của Bộ luật dân sự và pháp luật về đất đai.
Câu 4:
Tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài muốn hành nghề tại Việt Nam cần những điều kiện gì? Hình thức hành nghề như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 68 luật Luật sư 2006: Tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài đã được thành lập và đang hành nghề luật sư hợp pháp tại nước ngoài, tôn trọng Hiến pháp và pháp luật Việt Nam thì được phép hành nghề tại Việt Nam theo quy định của luật Luật sư.
Hình thức hành nghề của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài được quy định cụ thể tại Điều 69 luật Luật sư 2006:
- Chi nhánh của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài;
- Công ty luật trách nhiệm hữu hạn một trăm phần trăm vốn nước ngoài, công ty luật trách nhiệm hữu hạn dưới hình thức liên doanh.
Chi nhánh, công ty luật nước ngoài được tổ chức, hoạt động theo quy định của luật Luật sư, pháp luật về doanh nghiệp, pháp luật về đầu tư và quy định khác của pháp luật có liên quan.
Câu 5:
Ông Mạnh ở Tuyên Quang hỏi: Các cơ quan có thẩm quyền căn cứ vào đâu để quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất?
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 31 Luật đất đai 2003: Căn cứ để quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất bao gồm:
1. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt;
2. Nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong dự án đầu tư, đơn xin giao dất, thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất.
Vậy các cơ quan nhà nước có thẩm quyền căn cứ vào đó để quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất.
Đăng báo ngày 30/8/2009
Câu 1: Hợp đồng mua bán nhà ở không Công chứng có đăng ký sang tên được không?
Hỏi: Đầu năm 2009, tôi có mua của bà Th một căn hộ chung cư, căn hộ đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, tôi và bà Th chỉ lập và ký với nhau một Văn bản viết tay không có Công chứng, chứng thực. Nay bà Th đã chuyển ra nước ngoài sinh sống. Giờ tôi muốn làm thủ tục đăng ký sang tên sở hữu nhà có được không?
Trả lời:
- Hợp đồng mua bán nhà ở không phải công chứng nếu bên bán nhà là tổ chức có chức năng kinh doanh nhà (quy định tại Ðiều 450 của Bộ luật Dân sự năm 2005 và điểm b, khoản 3, Ðiều 93 của Luật Nhà ở năm 2005).
Khoản 3 của điều 93 Luật Nhà ở năm 2005 quy định:
“Hợp đồng về nhà ở phải có chứng nhận của công chứng hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp huyện đối với nhà ở tại đô thị, chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã đối với nhà ở tại nông thôn, trừ các trường hợp sau đây:
a) Cá nhân cho thuê nhà ở dưới sáu tháng;
b) Bên bán, bên cho thuê nhà ở là tổ chức có chức năng kinh doanh nhà ở;
c) Thuê mua nhà ở xã hội;
d) Bên tặng cho nhà ở là tổ chức”.
Như vậy trường hợp của Ông/bà đã mua nhà của bà Th mà Hợp đồng chưa Công chứng, chứng thực thì chưa đủ điều kiện để làm thủ tục đăng ký sang tên chủ sở hữu nhà tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Câu 2: Nhờ người khác đăng ký kêt hôn có được không?
Khách sạn chúng tôi tổ chức rất nhiều đám cưới cho các khách hàng, có cả khách hàng mang quốc tịch nước ngoài. Xin hỏi Chúng tôi muốn mang ảnh cưới của các khách hàng tổ chức tại khách sạn để đi đăng ký kết hôn giúp cho họ có được không?
Trả lời:
Điều 14 Luật hôn nhân và Gia Đình năm 2000 quy định:
Khi tổ chức đăng ký kêt hôn phải có mặt của hai bên nam, nữ kết hôn. Đại diện cơ quan đăng ký kết hôn yêu cầu hai bên cho biết ý muốn tự nguyện kết hôn, nếu hai bên đồng ý kết hôn thì đại diện cơ quan đăng ký kết hôn trao Giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên.
- Do đó việc đăng ký kết hôn không thể nhờ người khác đi đăng ký giúp được.
Câu 3. Lệ phí trước bạ hiện nay theo quy định của pháp luật là bao nhiêu, đóng theo giá mua bán hay đóng theo giá đất do nhà nước ban hành?
Trả lời: Theo Điều 1 Nghị định 80 ngày 29-7-2008 của Chính phủ, lệ phí trước bạ nhà đất là 0,5% giá trị tài sản mua bán. Đối với đất nhận chuyển nhượng của các tổ chức, cá nhân (không phân biệt tổ chức, cá nhân kinh doanh hay không kinh doanh), giá tính lệ phí trước bạ là giá chuyển nhượng thực tế ghi trên hóa đơn nhưng không được thấp hơn giá đất do UBND tỉnh quy định áp dụng tại thời điểm trước bạ. Nếu giá chuyển nhượng trên thực tế thấp hơn giá đất do UBND tỉnh ban hành thì mức giá để tính lệ phí trước bạ sẽ là giá do UBND tỉnh ban hành.
Câu4: Tôi có nhiều mảnh đất ở những địa phương khác nhau, nay tôi muốn dùng những tài sản đó đi thế chấp để bảo đảm nghĩa vụ. Vậy tôi có thể đến công chứng Hợp đồng thế chấp ở những đâu?
Trả lời: Tại khoản 2 Điều 47 Luật công chứng thì việc nhiều bất động sản thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác nhau cùng được thế chấp để bảo đảm thực hiện một nghĩa vụ thì việc công chứng hợp đồng thế chấp đó do công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng có trụ sở đặt tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi có một trong số bất động sản thực hiện.
Ngày 17/9/2009
Tình huống 1: Công dân và Quyền xác định dân tộc của mình
Hỏi: Ông Bà Trần Thị Thanh (Hà Giang) hỏi " Tôi có một người cháu đang gặp một số vấn đề liên quan đến việc khai dân tộc của cháu trên giấy tờ. Xin hỏi quý Báo, Pháp luật hiện hành quy định như thế nào về vấn đề xác định dân tộc của một công dân. Tôi muốn biết để làm cho cháu tôi được rõ ràng, tránh những phiến toái về sau. Cảm ơn Quý báo".
Trả lời: Liên quan đến câu hỏi của bác Thanh, hiện Bộ luật Dân sự 2005 có quy định về Quyền xác định dân tộc của mình tại điều 28 như sau:
" - Cá nhân khi sinh ra được xác định dân tộc theo dân tộc của cha đẻ, mẹ đẻ. Trong trường hợp cha đẻ và mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau thì dân tộc của người con được xác định là dân tộc của cha đẻ hoặc dân tộc của mẹ đẻ theo tập quán hoặc theo thoả thuận của cha đẻ, mẹ đẻ;
- Người đã thành niên, cha đẻ và mẹ đẻ hoặc người giám hộ của người chưa thành niên có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định lại dân tộc trong các trường hợp sau đây: (i); Xác định lại theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ, nếu cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau; (ii) Xác định lại theo dân tộc của cha đẻ, mẹ đẻ trong trường hợp làm con nuôi của người thuộc dân tộc khác mà được xác định theo dân tộc của cha nuôi, mẹ nuôi do không biết cha đẻ, mẹ đẻ là ai.
- Trong trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ hoặc người giám hộ của người chưa thành niên yêu cầu xác định lại dân tộc cho người chưa thành niên từ đủ mười lăm tuổi trở thì phải được sự đồng ý của người chưa thành niên đó."
Trên đây là quy định của Pháp luật Dân sự. Về thẩm quyền, bác có thể liên lạc với cơ quan tư pháp để được trực tiếp hướng dẫn giải quyết vướng mắc của mình.
Tình huống 2: Quyền về lối đi qua Bất Động Sản liền kề
Hỏi: Ông Nguyễn Văn Đức (Thanh trì - Hà Nội) hỏi: " Hiện tại Gia đình tôi và hàng xóm đang có vướng mắc liên quan đến lối đi. Xin hỏi Quý báo hiện Pháp luật quy định như thế nào về vấn đề lối đi qua bất động sản liền kề?"
Trả lời: Bộ luật Dân sự 2005 quy định Quyền về lối đi qua bất động sản liền kề như sau:
"- Chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có lối đi ra, có quyền yêu cầu một trong những chủ sở hữu bất động sản liền kề dành cho mình một lối đi ra đến đường công cộng; người được yêu cầu có nghĩa vụ đáp ứng yêu cầu đó. Người được dành lối đi phải đền bù cho chủ sở hữu bất động sản liền kề, nếu không có thoả thuận khác.
Lối đi được mở trên bất động sản liền kề nào mà được coi là thuận tiện và hợp lý nhất, có tính đến đặc điểm cụ thể của địa điểm, lợi ích của bất động sản bị vây bọc và thiệt hại gây ra là ít nhất cho bất động sản có mở lối đi.
- Vị trí, giới hạn chiều dài, chiều rộng, chiều cao của lối đi do các bên thoả thuận, bảo đảm thuận tiện cho việc đi lại và ít gây phiền hà cho các bên; nếu có tranh chấp về lối đi thì có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định".
Ngoài ra điều luật này còn quy định "Trong trường hợp bất động sản được chia thành nhiều phần cho các chủ sở hữu, chủ sử dụng khác nhau thì khi chia phải dành lối đi cần thiết cho người phía trong mà không có đền bù".
Tình huống 3: Điều kiện Chuyển giao quyền Thương mại
Hỏi: Anh Phan Hùng Cường (Đà Nẵng) hỏi: Trước đây Công ty Chúng tôi có nhận Quyền thương mại được nhượng từ một đơn vị khác để hoạt động sản xuất kinh doanh. Một đối tác khác của chúng tôi đang muốn chúng tôi tiếp tục nhượng quyền thương mại đó cho họ. Xin hỏi Quý báo pháp luật quy định điều kiện về việc này như thế nào?
Trả lời: Vấn đề anh Cường thắc mắc, Điều 15 Nghị định 35/2006/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết Luật Thương mại về vấn đề Nhượng quyền thương mại có quy định như sau: " Bên nhận quyền được chuyển giao quyền thương mại cho bên dự kiến nhận quyền khác khi đáp ứng được các điều kiện sau đây:
(i)Bên dự kiến nhận chuyển giao phải là thương nhân có đăng ký kinh doanh ngành nghề phù hợp với đối tượng của Quyền thương mại.
(ii) Được sự chấp thuận của Bên nhượng quyền đã cấp quyền thương mại cho mình."
Khoản 4 điều này cũng quy định " Bên chuyển giao quyền thương mại mất quyền thương mại đã chuyển giao. Mọi quyền và nghĩa vụ liên quan đến quyền thương mại của Bên chuyển giao được chuyển cho Bên nhận chuyển giao, trừ trường hợp có thoả thuận khác"
Tình huống 4: Hệ Quả của việc thông báo sai tuổi trong bảo hiểm nhân thọ
Hỏi: Chị Nguyễn Minh Hà (Hà Nội) hỏi: Trường hợp thông báo sai khi mua bảo hiểm nhân thọ, Pháp luật có điều chỉnh không và hệ quả của vấn đề này như thế nào?
Trả lời:
Luật về Kinh doanh Bảo hiểm quy định rõ " bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ thông báo chính xác tuổi của người được bảo hiểm vào thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm để làm cơ sở tính phí bảo hiểm". Hệ quả của vấn đề này, tùy từng trường hợp được quy định như sau: " (i) Trường hợp Bên mua bảo hiểm thông báo sau tuổi của người được bảo hiểm, nhưng tuổi đúng của người được bảo hiểm không thuộc nhóm tuổi có thể được bảo hiểm thì Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền hủy bỏ hợp đồng và hoàn trả số phí bảo hiểm đã đóng cho bên mua bảo hiểm sau khi đã trừ đi các chi phí hợp lý có liên quan. Trường hợp Hợp đồng bảo hiểm đã có hiệu lực từ hai năm trở lên thì Dn bảo hiểm phải trả cho bên ma bảo hiểm giá trị hoàn lại của hợp đồng bảo hiểm. (ii) Trường hợp bên mua bảo hiểm thông báo sai tuổi của người được bảo hiểm làm giảm số phí bảo hiểm phải đóng, nhưng tuổi đúng của người được bảo hiểm vẫn có thể được bảo hiểm thì DN nghiệp bảo hiểm có quyền yêu cầu bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm bổ sung tương ứng với số tiền bảo hiểm đã thỏa thuận trong hợp đồng hoặc Giảm số tiền bảo hiểm đã thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm tương ứng với số phí bảo hiểm đã đóng. (iii) Trường hợp bên mua bảo hiểm thông báo sai tuổi của người được bảo hiểm dẫn đến tăng số phí bảo hiểm phải đóng nhưng tuổi đúng của người được bảo hiểm vẫn thuộc nhóm tuổi có thể được bảo hiểm thì DN bảo hiểm phải hoàn trả cho bên mua bảo hiểm số phí bảo hiểm vượt trội đã đóng hoặc tăng số tiền bảo hiểm đã thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm tương ứng số phí bảo hiểm đã đóng."
Tình huống 5.
Tiền Ký quỹ đối với DN hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở Nước ngoài
Hỏi: Anh Nguyễn Quyết Thắng (Hải phòng) hỏi: Pháp luật có quy định một trong những điều kiện để cấp giấy phép cho Doanh nghiệp có hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở Nước ngoài là DN phải đảm bảo tiền ký quỹ. Vậy khoản tiền ký quỹ này là như thế nào?
Trả lời: Vấn đề tiền ký quỹ của Doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở Nước ngoài được quy định chi tiết tại điều 5 Nghị định 126/2007/NĐ-CP như sau:
" - Mức tiền ký quỹ là một tỷ đồng. Trường hợp tiền ký quỹ được sử dụng để giải quyết những vấn đề phát sinh liên quan đến người lao động thì trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày tiền ký quỹ được sử dụng, doanh nghiệp phải nộp bổ sung cho đủ mức tiền ký quỹ theo quy định. Doanh nghiệp ký quỹ tại Ngân hàng Thương mại nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính.
- Cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước có quyền sử dụng tiền ký quỹ của doanh nghiệp hoạt động dịch vụ để giải quyết các vấn đề phát sinh trong trường hợp doanh nghiệp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trong hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài"
Khoản 4 của Điều luật này còn quy định " Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn việc quản lý và sử dụng tiền ký quỹ của doanh nghiệp dịch vụ."
Tình huống 6: Thứ tự phân chia tài sản trong thủ tục Phá sản
Hỏi: Chị Nguyễn Thị Hồng Loan ( Hà Nội) hỏi: Công ty chúng tôi đang chuẩn bị tiến hành các thủ tục để tuyên bố phá sản Doanh nghiệp. Tôi muốn hỏi về thứ tự phân chia tài sản được quy định như thế nào?
Trả lời:
Điều 37 Luật Phá sản có quy định về thứ tự phân chia tài sản tùy vào từng trường hợp như sau:
-Trường hợp Thẩm phán ra quyết định mở thủ tục thanh lý đối với Doanh nghiệp, hợp tác xã thì việc phân chia giá trị tài sản của DN, HTX như sau: (1) Phí phá sản; (2) Các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật và các quyền lợi khác theo thỏa ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết; (3) Các khoản nợ khoongc ó bảo đảm phải trả cho các chủ nợ trong danh sách chủ nợ theo nguyên tắc nếu giá trị tài sản đủ để thanh toán các khoản nợ thì mỗi chủ nợ đều được thanh toán đủ số nợ của mình nếu giá trị tài sản không đủ để thanh toán các khoản nợ thì mỗi chủ nợ chỉ được thanh toán một phần khoản nợ theo tỷ lệ tương ứng.
-Trường hợp giá trị tài sản của DN, HTX sai khi đã thanh toán đủ các khoản quy định tại khoản 1 điều này mà vẫn còn thì phần còn lại thuộc về: (1) Xã viên Hợp tác xã; (2) Chủ Doanh nghiệp tư nhân; (3) Các thành viên của Công ty, các cổ đông của công ty Cổ phần; (4) Chủ sở hữu DN nhà nước.
Ngày 24/9/2009
Tình huống 1:
Thẩm quyền giải quyết các việc về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
Hỏi: Chị Hoàng An ( Hà Nội) hỏi: Tôi có một người họ hàng kết hôn với chồng là người Pháp. Xin Quý báo cho biết cơ quan có thẩm quyền giải quyết việc về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là cơ quan nào?
Trả lời: Liên quan đến vấn đề thẩm quyền giải quyết các việc về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, điều 102 Luật Hôn nhân và Gia đình 2004 có quy định cụ thể như sau:
“ - Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ướng thực hiện việc đăng ký kết hôn, nuôi con nuôi và giám hộ có yếu tố nước ngoài. Việc đăng ký kết hôn, nuôi con nuôi, giám hộ giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam do chính phủ quy định.
- Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài thực hiện việc đăng ký kết hôn, giải quyết các việc về nuôi con nuôi và giám hộ có yếu tố nước ngoài theo quy định của luật này, các quy định khác có liên quan của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia, nếu việc đăng ký, giải quyết đó không trái với pháp luật của nước sở tại; có trách nhiệm thực hiện bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài.
- Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hủy kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc ly hôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ và con, về nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi, và giám hộ có yếu tố nước ngoài, xem xét công nhận hoặc không công nhận bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác của nước ngoài theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam. Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi cư trú của công dân Việt Nam hủy việc kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc ly hôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ và con, về nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi và giám hộ giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam”
Tình huống 2: Thời hiệu yêu cầu thi hành án theo Luật Thi hành án
Hỏi: Bác Nguyễn Văn Công (Ninh Bình) hỏi: Tôi được biết Nhà nước mới ban hành luật về thi hành án. Xin quý báo cho biết so với quy định về thời hiệu thi hành án trước đây, Luật mới có thay đổi gì không và thủ tục gửi đơn yêu cầu thi hành án là như thế nào?
Trả lời: Luật Thi hành án Dân sự có hiệu lực từ ngày 01/07/2009. Về thời hiệu yêu cầu thi hành án, so với Pháp lệnh thi hành án dân sự trước đây có sự thay đổi cơ bản, và được quy định cụ thể tại điều 30 như sau:
“ Trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành án. Trường hợp thời hạn thực hiện nghĩa vụ được ấn định trong bản án, quyết định thì thời hạn 05 năm được tính từ ngày nghĩa vụ đến hạn. Đối với bản án, quyết định thi hành theo định kỳ thì thời hạn 05 năm được áp dụng cho từng định kỳ, kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn.
Đối với các trường hợp hoãn, tạm đình chỉ thi hành án theo quy định của Luật này thì thời gian hoãn, tạm đình chỉ không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án, trừ trường hợp người được thi hành án đồng ý cho người phải thi hành án hoãn thi hành án.
Trường hợp người yêu cầu thi hành án chứng minh được do trở ngại khách quan hoặc do sự kiện bất khả kháng mà không thể yêu cầu thi hành án đúng thời hạn thì thời gian có trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án.”
Về thủ tục gửi đơn yêu cầu thi hành án, Luật cũng quy định cụ thể tại điều 32 như sau: “ Người yêu cầu thi hành án tự mình hoặc uỷ quyền cho người khác yêu cầu thi hành án bằng một trong các hình thức sau đây:
a) Nộp đơn hoặc trực tiếp trình bày bằng lời nói tại cơ quan thi hành án dân sự;
b) Gửi đơn qua bưu điện.
Ngày gửi đơn yêu cầu thi hành án được tính từ ngày người yêu cầu thi hành án nộp đơn hoặc trình bày trực tiếp tại cơ quan thi hành án dân sự hoặc ngày có dấu bưu điện nơi gửi”.
Tình huống 4: Thủ tục tuyển lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam
Hỏi: Chị Trần Mai Lan (Hải Phòng) hỏi: Doanh nghiệp chúng tôi đang muốn hợp tác với một số chuyên gia nước ngoài, có ký kết Hợp đồng lao động. Xin cho hỏi trình tự thủ tục tuyển người nước ngoài làm việc tại Việt Nam là như thế nào?
Trả lời: Vấn đề chị hỏi, khoản 4 điều 4 Nghị định 43/2008/NĐ-CP có hướng dẫn như sau về trình tự, thủ tục tuyển người nước ngoài làm việc tại Việt Nam như sau: “ (i) Trước khi tuyển lao động ít nhất 30 (ba mươi) ngày, người sử dụng lao động phải thông báo nhu cầu tuyển lao động trên báo Trung ương hoặc địa phương (báo viết, báo nói, báo hình, báo điện tử) về các nội dung: số lượng người cần tuyển, công việc, trình độ chuyên môn, mức lương, điều kiện làm việc và một số yêu cầu cần thiết khác nếu người sử dụng lao động cần. Trường hợp người sử dụng lao động tuyển người nước ngoài thông qua tổ chức giới thiệu việc làm thì không phải thông báo nhu cầu tuyển lao động trên báo Trung ương hoặc địa phương theo quy định nêu trên; (ii) Người sử dụng lao động phải cung cấp đầy đủ các quy định của pháp luật Việt Nam có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người nước ngoài vào Việt Nam làm việc; Người nước ngoài phải nghiên cứu đầy đủ các quy định của pháp luật Việt Nam do người sử dụng lao động cung cấp, đồng thời phải chuẩn bị các giấy tờ cần thiết và thực hiện theo đúng quy định của Nghị định này; (iii) Người nước ngoài muốn làm việc tại Việt Nam phải nộp hồ sơ đăng ký dự tuyển lao động nêu tại khoản 2 Điều này cho người sử dụng lao động. Người sử dụng lao động tiếp nhận hồ sơ đăng ký dự tuyển lao động của người nước ngoài khi hồ sơ có đầy đủ các giấy tờ theo quy định tại Nghị định này và phải làm thủ tục đề nghị cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam theo quy định tại Nghị định này. (iv) Khi được cấp giấy phép lao động, người nước ngoài và người sử dụng lao động phải tiến hành giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản theo quy định của pháp luật lao động Việt Nam; người sử dụng lao động có trách nhiệm gửi bản sao hợp đồng lao động đã giao kết tới cơ quan đã cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài đó. Nội dung trong hợp đồng lao động không được trái với nội dung đã ghi trong giấy phép lao động đã được cấp”
Tình huống 5: Căn cứ để giải quyết tranh chấp đất đai
Hỏi: Ông Nguyễn Thế Cường (Bắc Ninh) hỏi: Tôi có người bà con đang tranh chấp một diện tích đất thổ. Vì không có giấy tờ về đất, nên vụ tranh chấp đang được UBND xã thụ lý hồ sơ. Tôi muốn hỏi căn cứ để giải quyết tranh chấp về đất đai mà không có giấy tờ về đất là như thế nào?
Trả lời: Điều 161 Nghị định 181/2004/NĐ-CP hướng dẫn Luật Đất đai có quy định cụ thể căn cứ để giải quyết tranh chấp đất đai trong trường hợp các bên tranh chấp không có giấy tờ về quyền sử dụng đất như sau: “(i) Chứng cứ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất do các bên tranh chấp đưa ra; (ii) Ý kiến của Hội đồng tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai của xã, phường, thị trấn do Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn thành lập gồm có: Chủ tịch hoặc phó chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn là Chủ tịch Hội đồng; Đại diện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã phường, thị trấn; Tổ trưởng tổ dân phố đối với khu vực đô thị, trưởng thôn, ấp, bản, buôn, phum, sóc đối với khu vực nông thôn; đại diện của một số hộ dân sinh sông lâu đời tại xã, phường, thị trấn biết rõ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đối với thửa đất đó; cán bộ địa chính, cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn; (iii) Thực tế diện tích đất mà các bên tranh chấp đang sử dụng ngoài diện tích đất đang có tranh chấp và bình quân diện tích đất cho một nhân khẩu tại địa phương; (iv) Sự phù hợp của hiện trạng sử dụng thửa đất đang có tranh chấp với quy hoạch sử dụng đất chi tiết đã được xét duyệt; (v) Chính sách ưu đãi người có công của Nhà nước (vi) Quy định của Pháp luật về giao đất, cho thuê đất.”
Tình huống 6:
Trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước trong việc giải quyết khiếu nại
Hỏi: Bà Hoàng Thị Vui (Hà Nam) hỏi: Tôi đang theo giải quyết khiếu nại một quyết định hành chính của Chủ tịch UBND huyện. Tôi nhận thấy một điều ông chủ tịch không thực sự có trách nhiệm trong việc giải quyết khiếu nại của tôi. Xin quý báo cho hỏi Pháp luật có quy định như thế nào về trách nhiệm này.
Trả lời: Điều 9 của Nghị định 136/2006/NĐ-CP hướng dẫn luật khiếu nại, tố cáo và các luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật khiếu nại, tố cáo có quy định như sau: “(i) Trong quá trình giải quyết khiếu nại lần đầu người giải quyết khiếu nại phải trực tiếp gặp gỡ, đối thoại với người khiếu nại, người bị khiếu nại, người có quyền, lợi ích liên quan để làm rõ nội dung khiếu nại, yêu cầu của người khiếu nại và hướng giải quyết khiếu nại; việc gặp gỡ, đối thoại phải tiến hành công khai, dân chủ; nếu thấy cần thiết có thể mời đại diện tổ chức chính trị - xã hội tham dự. Đối với việc giải quyết khiếu nại lần hai, việc gặp gỡ, đối thoại trực tiếp chỉ thực hiện khi thấy cần thiết. Trong trường hợp khiếu nại là vụ việc phức tạp, thì người giải quyết khiếu nại lần hai phải gặp gỡ, đối thoại trực tiếp với người khiếu nại, người bị khiếu nại, người có quyền và lợi ích liên quan. Việc gặp gỡ, đối thoại được tiến hành như lần đầu; (ii) Người giải quyết khiếu nại có trách nhiệm thông báo bằng văn bản với người khiếu nại, người bị khiếu nại, người có quyền, lợi ích liên quan, đại diện tổ chức chính trị - xã hội biết thời gian, địa điểm, nội dung việc gặp gỡ, đối thoại; người được thông báo có trách nhiệm đến đúng thời gian, địa điểm, thành phần như trong thông báo; (iii) Khi gặp gỡ, đối thoại, người giải quyết khiếu nại phải nêu rõ nội dung cần đối thoại, kết quả việc xác minh nội dung vụ việc khiếu nại; người tham gia đối thoại có quyền phát biểu ý kiến, đưa ra những bằng chứng liên quan đến vụ việc khiếu nại và yêu cầu của mình; (iv) Việc gặp gỡ, đối thoại phải được lập thành biên bản; biên bản phải ghi rõ ý kiến của những người tham gia, tóm tắt kết quả về các nội dung đã đối thoại, có chữ ký của người tham gia; trường hợp người tham gia đối thoại không ký xác nhận thì phải ghi rõ lý do; biên bản này được lưu vào hồ sơ vụ việc khiếu nại; (v) Kết quả việc gặp gỡ, đối thoại là một trong các căn cứ làm cơ sở cho việc giải quyết khiếu nại.”
Tình huống 7. Quyền được bảo đảm đầu tư trong trường hợp thay đổi pháp luật, chính sách
Hỏi: Anh Nguyễn Chí Minh ( Khu công nghiệp Phố Nối – Hưng Yên) hỏi: Tôi được biết hiện nay Pháp luật về đầu tư có đảm bảo quyền của các nhà đầu tư trong trường hợp có sự thay đổi về pháp luật, cơ chế chính sách của Nhà nước. Xin Quý báo cho biết cụ thể về vấn đề này?
Trả lời: Quyền được đảm bảo đầu tư trong trường hợp thay đổi pháp luật, chính sách được quy định cụ thể tại điều 20 Nghị định 108/2006/NĐ-CP như sau: “ (i) Trường hợp pháp luật, chính sách mới ban hành làm ảnh hưởng bất lợi đến lợi ích hợp pháp mà nhà đầu tư đã được hưởng trước khi pháp luật, chính sách mới đó có hiệu lực thì nhà đầu tư được bảo đảm hưởng các ưu đãi được quy định tại Giấy chứng nhận đầu tư hoặc được giải quyết bằng một, một số hoặc các biện pháp sau: Tiếp tục hưởng các quyền và ưu đãi; Được khấu trừ phần thiệt hại vào thu nhập chịu thuế; Được điều chỉnh mục tiêu của dự án; Được xem xét bồi thường trong một số trường hợp cần thiết.
(ii) Đối với biện pháp bồi thường, cơ quan cấp Giấy chứng nhận đầu tư trình Thủ tướng Chính phủ quyết định việc bảo đảm lợi ích của nhà đầu tư do việc thay đổi pháp luật, chính sách có ảnh hưởng bất lợi đến lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư.”
VĂN PHÒNG LUẬT SƯ ĐÀO VÀ ĐỒNG NGHIỆP
LÀ NGƯỜI BẠN TIN CẬY CỦA KHÁCH HÀNG
|