en vi

Thứ hai, 25/06/2018
Công ty Luật TNHH  Đào và Đồng nghiệp | Địa chỉ: Số 369, Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội | Điện thoại : (+84-24)3.557.9568*  Fax: (+84-24)3.557.9598 * Hotline: 0945.490.123

Báo Pháp luật Việt Nam 24/9/09

Email In PDF

Câu 1Chị Hoàng An (Hà Nội) hỏi: Tôi có một người họ hàng kết hôn với chồng là người Pháp. Xin Quý báo cho biết cơ quan có thẩm quyền giải quyết việc về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là cơ quan nào?

Trả lời:

Liên quan đến vấn đề thẩm quyền giải quyết các việc về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, Điều 102 Luật Hôn nhân và Gia đình 2004 có quy định cụ thể như sau:

- Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện việc đăng ký kết hôn, nuôi con nuôi và giám hộ có yếu tố nước ngoài. Việc đăng ký kết hôn, nuôi con nuôi, giám hộ giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam do chính phủ quy định.

- Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài thực hiện việc đăng ký kết hôn, giải quyết các việc về nuôi con nuôi và giám hộ có yếu tố nước ngoài theo quy định của luật này, các quy định khác có liên quan của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia, nếu việc đăng ký, giải quyết đó không trái với pháp luật của nước sở tại; có trách nhiệm thực hiện bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài.

- Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hủy kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc ly hôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ và con, về nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi, và giám hộ có yếu tố nước ngoài, xem xét công nhận hoặc không công nhận bản án, quyết định về hôn nhân và gia đình của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác của nước ngoài theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam. Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi cư trú của công dân Việt Nam hủy việc kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc ly hôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ và con, về nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi và giám hộ giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam.

 

Câu 2Bác Nguyễn Văn Công (Ninh Bình) hỏi: Tôi được biết Nhà nước mới ban hành luật về thi hành án. Xin quý báo cho biết so với quy định về thời hiệu thi hành án trước đây, Luật mới có thay đổi gì không và thủ tục gửi đơn yêu cầu thi hành án là như thế nào?

Trả lời:

Luật Thi hành án Dân sự có hiệu lực từ ngày 01/07/2009. Về thời hiệu yêu cầu thi hành án, so với Pháp lệnh thi hành án dân sự trước đây có sự thay đổi cơ bản, và được quy định cụ thể tại Điều 30 như sau:

- Trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền ra quyết định thi hành án. Trường hợp thời hạn thực hiện nghĩa vụ được ấn định trong bản án, quyết định thì thời hạn 05 năm được tính từ ngày nghĩa vụ đến hạn. Đối với bản án, quyết định thi hành theo định kỳ thì thời hạn 05 năm được áp dụng cho từng định kỳ, kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn.

- Đối với các trường hợp hoãn, tạm đình chỉ thi hành án theo quy định của Luật này thì thời gian hoãn, tạm đình chỉ không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án, trừ trường hợp người được thi hành án đồng ý cho người phải thi hành án hoãn thi hành án.

- Trường hợp người yêu cầu thi hành án chứng minh được do trở ngại khách quan hoặc do sự kiện bất khả kháng mà không thể yêu cầu thi hành án đúng thời hạn thì thời gian có trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng không tính vào thời hiệu yêu cầu thi hành án.”

- Về thủ tục gửi đơn yêu cầu thi hành án, Luật cũng quy định cụ thể tại Điều 32 như sau: “Người yêu cầu thi hành án tự mình hoặc uỷ quyền cho người khác yêu cầu thi hành án bằng một trong các hình thức sau đây:

a) Nộp đơn hoặc trực tiếp trình bày bằng lời nói tại cơ quan thi hành án dân sự;

b) Gửi đơn qua bưu điện.

Ngày gửi đơn yêu cầu thi hành án được tính từ ngày người yêu cầu thi hành án nộp đơn hoặc trình bày trực tiếp tại cơ quan thi hành án dân sự hoặc ngày có dấu bưu điện nơi gửi”.

 

Câu 3: Chị Trần Mai Lan (Hải Phòng) hỏi: Doanh nghiệp chúng tôi đang muốn hợp tác với một số chuyên gia nước ngoài, có ký kết Hợp đồng lao động. Xin cho hỏi trình tự thủ tục tuyển người nước ngoài làm việc tại Việt Nam là như thế nào?

Trả lời:

Vấn đề chị hỏi, khoản 4 Điều 4 Nghị định 43/2008/NĐ-CP có hướng dẫn như sau về trình tự, thủ tục tuyển người nước ngoài làm việc tại Việt Nam như sau:  “(i) Trước khi tuyển lao động ít nhất 30 (ba mươi) ngày, người sử dụng lao động phải thông báo nhu cầu tuyển lao động trên báo Trung ương hoặc địa phương (báo viết, báo nói, báo hình, báo điện tử) về các nội dung: số lượng người cần tuyển, công việc, trình độ chuyên môn, mức lương, điều kiện làm việc và một số yêu cầu cần thiết khác nếu người sử dụng lao động cần. Trường hợp người sử dụng lao động tuyển người nước ngoài thông qua tổ chức giới thiệu việc làm thì không phải thông báo nhu cầu tuyển lao động trên báo Trung ương hoặc địa phương theo quy định nêu trên; (ii) Người sử dụng lao động phải cung cấp đầy đủ các quy định của pháp luật Việt Nam có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người nước ngoài vào Việt Nam làm việc; Người nước ngoài phải nghiên cứu đầy đủ các quy định của pháp luật Việt Nam do người sử dụng lao động cung cấp, đồng thời phải chuẩn bị các giấy tờ cần thiết và thực hiện theo đúng quy định của Nghị định này; (iii) Người nước ngoài muốn làm việc tại Việt Nam phải nộp hồ sơ đăng ký dự tuyển lao động nêu tại khoản 2 Điều này cho người sử dụng lao động. Người sử dụng lao động tiếp nhận hồ sơ đăng ký dự tuyển lao động của người nước ngoài khi hồ sơ có đầy đủ các giấy tờ theo quy định tại Nghị định này và phải làm thủ tục đề nghị cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam theo quy định tại Nghị định này. (iv) Khi được cấp giấy phép lao động, người nước ngoài và người sử dụng lao động phải tiến hành giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản theo quy định của pháp luật lao động Việt Nam; người sử dụng lao động có trách nhiệm gửi bản sao hợp đồng lao động đã giao kết tới cơ quan đã cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài đó. Nội dung trong hợp đồng lao động không được trái với nội dung đã ghi trong giấy phép lao động đã được cấp”.

 

Câu 4Ông Nguyễn Thế Cường (Bắc Ninh) hỏi: Tôi có người bà con đang tranh chấp một diện tích đất thổ. Vì không có giấy tờ về đất, nên vụ tranh chấp đang được UBND xã thụ lý hồ sơ. Tôi muốn hỏi căn cứ để giải quyết tranh chấp về đất đai mà không có giấy tờ về đất là như thế nào?

Trả lời:

Điều 161 Nghị định 181/2004/NĐ-CP hướng dẫn Luật Đất đai có quy định cụ thể căn cứ để giải quyết tranh chấp đất đai trong trường hợp các bên tranh chấp không có giấy tờ về quyền sử dụng đất như sau: “(i) Chứng cứ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất do các bên tranh chấp đưa ra; (ii) Ý kiến của Hội đồng tư vấn giải quyết tranh chấp đất đai của xã, phường, thị trấn do Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn thành lập gồm có: Chủ tịch hoặc phó chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn là Chủ tịch Hội đồng; Đại diện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã phường, thị trấn; Tổ trưởng tổ dân phố đối với khu vực đô thị, trưởng thôn, ấp, bản, buôn, phum, sóc đối với khu vực nông thôn; đại diện của một số hộ dân sinh sông lâu đời tại xã, phường, thị trấn biết rõ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đối với thửa đất đó; cán bộ địa chính, cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn; (iii) Thực tế diện tích đất mà các bên tranh chấp đang sử dụng ngoài diện tích đất đang có tranh chấp và bình quân diện tích đất cho một nhân khẩu tại địa phương; (iv) Sự phù hợp của hiện trạng sử dụng thửa đất đang có tranh chấp với quy hoạch sử dụng đất chi tiết đã được xét duyệt; (v) Chính sách ưu đãi người có công của Nhà nước (vi) Quy định của Pháp luật về giao đất, cho thuê đất.”

 

Câu 5Bà Hoàng Thị Vui (Hà Nam) hỏi: Tôi đang theo giải quyết khiếu nại một quyết định hành chính của Chủ tịch UBND huyện. Tôi nhận thấy một điều ông chủ tịch không thực sự có trách nhiệm trong việc giải quyết khiếu nại của tôi. Xin quý báo cho hỏi Pháp luật có quy định như thế nào về trách nhiệm này?

Trả lời:

Điều 9 của Nghị định 136/2006/NĐ-CP hướng dẫn luật khiếu nại, tố cáo và các luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật khiếu nại, tố cáo có quy định như sau: “(i) Trong quá trình giải quyết khiếu nại lần đầu người giải quyết khiếu nại phải trực tiếp gặp gỡ, đối thoại với người khiếu nại, người bị khiếu nại, người có quyền, lợi ích liên quan để làm rõ nội dung khiếu nại, yêu cầu của người khiếu nại và hướng giải quyết khiếu nại; việc gặp gỡ, đối thoại phải tiến hành công khai, dân chủ; nếu thấy cần thiết có thể mời đại diện tổ chức chính trị - xã hội tham dự. Đối với việc giải quyết khiếu nại lần hai, việc gặp gỡ, đối thoại trực tiếp chỉ thực hiện khi thấy cần thiết. Trong trường hợp khiếu nại là vụ việc phức tạp, thì người giải quyết khiếu nại lần hai phải gặp gỡ, đối thoại trực tiếp với người khiếu nại, người bị khiếu nại, người có quyền và lợi ích liên quan. Việc gặp gỡ, đối thoại được tiến hành như lần đầu; (ii) Người giải quyết khiếu nại có trách nhiệm thông báo bằng văn bản với người khiếu nại, người bị khiếu nại, người có quyền, lợi ích liên quan, đại diện tổ chức chính trị - xã hội biết thời gian, địa điểm, nội dung việc gặp gỡ, đối thoại; người được thông báo có trách nhiệm đến đúng thời gian, địa điểm, thành phần như trong thông báo; (iii) Khi gặp gỡ, đối thoại, người giải quyết khiếu nại phải nêu rõ nội dung cần đối thoại, kết quả việc xác minh nội dung vụ việc khiếu nại; người tham gia đối thoại có quyền phát biểu ý kiến, đưa ra những bằng chứng liên quan đến vụ việc khiếu nại và yêu cầu của mình; (iv) Việc gặp gỡ, đối thoại phải được lập thành biên bản; biên bản phải ghi rõ ý kiến của những người tham gia, tóm tắt kết quả về các nội dung đã đối thoại, có chữ ký của người tham gia; trường hợp người tham gia đối thoại không ký xác nhận thì phải ghi rõ lý do; biên bản này được lưu vào hồ sơ vụ việc khiếu nại; (v) Kết quả việc gặp gỡ, đối thoại là một trong các căn cứ làm cơ sở cho việc giải quyết khiếu nại.”

 

Câu 6. Anh Nguyễn Chí Minh (Khu công nghiệp Phố Nối – Hưng Yên) hỏi: Tôi được biết hiện nay Pháp luật về đầu tư có đảm bảo quyền của các nhà đầu tư trong trường hợp có sự thay đổi về pháp luật, cơ chế chính sách của Nhà nước. Xin Quý báo cho biết cụ thể về vấn đề này?

Trả lời:

Quyền được đảm bảo đầu tư trong trường hợp thay đổi pháp luật, chính sách được quy định cụ thể tại điều 20 Nghị định 108/2006/NĐ-CP như sau: “ (i) Trường hợp pháp luật, chính sách mới ban hành làm ảnh hưởng bất lợi đến lợi ích hợp pháp mà nhà đầu tư đã được hưởng trước khi pháp luật, chính sách mới đó có hiệu lực thì nhà đầu tư được bảo đảm hưởng các ưu đãi được quy định tại Giấy chứng nhận đầu tư hoặc được giải quyết bằng một, một số hoặc các biện pháp sau: Tiếp tục hưởng các quyền và ưu đãi; Được khấu trừ phần thiệt hại vào thu nhập chịu thuế; Được điều chỉnh mục tiêu của dự án; Được xem xét bồi thường trong một số trường hợp cần thiết.

(ii) Đối với biện pháp bồi thường, cơ quan cấp Giấy chứng nhận đầu tư trình Thủ tướng Chính phủ quyết định việc bảo đảm lợi ích của nhà đầu tư do việc thay đổi pháp luật, chính sách có ảnh hưởng bất lợi đến lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư.”

 

Hỗ trợ tư vấn

Điện thoại:
Fax:
 
(+84-24)3.557.9668
 
(+84-24)3.557.9598
Email tư vấn: info@luatsutuvan.com.vn
icon_email

Giải đáp pháp luật

Joomla Templates and Joomla Extensions by JoomlaVision.Com

Tổ chức liên kết

cong-chung
daugia
KK22

Liên kết website

bg_trai3