en vi

Thứ bảy, 20/01/2018
Công ty Luật TNHH  Đào và Đồng nghiệp | Địa chỉ: Số 369, Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội | Điện thoại : (+84-24)3.557.9568*  Fax: (+84-24)3.557.9598 * Hotline: 0945.490.123

Báo Pháp luật Việt Nam 17/9/09

Email In PDF

Câu 1: Bà Trần Thị Thanh (Hà Giang) hỏi "Tôi có một người cháu đang gặp một số vấn đề liên quan đến việc khai dân tộc của cháu trên giấy tờ. Xin hỏi quý Báo, Pháp luật hiện hành quy định như thế nào về vấn đề xác định dân tộc của một công dân. Tôi muốn biết để làm cho cháu tôi được rõ ràng, tránh những phiến toái về sau. Cảm ơn Quý báo!".

Trả lời:

Liên quan đến câu hỏi của bác Thanh, hiện Bộ luật Dân sự 2005 có quy định về Quyền xác định dân tộc của mình tại Điều 28 như sau:

- Cá nhân khi sinh ra được xác định dân tộc theo dân tộc của cha đẻ, mẹ đẻ. Trong trường hợp cha đẻ và mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau thì dân tộc của người con được xác định là dân tộc của cha đẻ hoặc dân tộc của mẹ đẻ theo tập quán hoặc theo thoả thuận của cha đẻ, mẹ đẻ;

- Người đã thành niên, cha đẻ và mẹ đẻ hoặc người giám hộ của người chưa thành niên có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định lại dân tộc trong các trường hợp sau đây: (i) Xác định lại theo dân tộc của cha đẻ hoặc mẹ đẻ, nếu cha đẻ, mẹ đẻ thuộc hai dân tộc khác nhau; (ii) Xác định lại theo dân tộc của cha đẻ, mẹ đẻ trong trường hợp làm con nuôi của người thuộc dân tộc khác mà được xác định theo dân tộc của cha nuôi, mẹ nuôi do không biết cha đẻ, mẹ đẻ là ai.

- Trong trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ hoặc người giám hộ của người chưa thành niên yêu cầu xác định lại dân tộc cho người chưa thành niên từ đủ mười lăm tuổi trở thì phải được sự đồng ý của người chưa thành niên đó."

Trên đây là quy định của Pháp luật Dân sự. Về thẩm quyền, bác có thể liên lạc với cơ quan tư pháp để được trực tiếp hướng dẫn giải quyết vướng mắc của mình.

 

Câu 2Ông Nguyễn Văn Đức (Thanh trì - Hà Nội) hỏi: Hiện tại Gia đình tôi và hàng xóm đang có vướng mắc liên quan đến lối đi. Xin hỏi Quý báo hiện Pháp luật quy định như thế nào về vấn đề lối đi qua bất động sản liền kề?

Trả lời:

Bộ luật Dân sự 2005 quy định Quyền về lối đi qua bất động sản liền kề như sau:

"-  Chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có lối đi ra, có quyền yêu cầu một trong những chủ sở hữu bất động sản liền kề dành cho mình một lối đi ra đến đường công cộng; người được yêu cầu có nghĩa vụ đáp ứng yêu cầu đó. Người được dành lối đi phải đền bù cho chủ sở hữu bất động sản liền kề, nếu không có thoả thuận khác.

Lối đi được mở trên bất động sản liền kề nào mà được coi là thuận tiện và hợp lý nhất, có tính đến đặc điểm cụ thể của địa điểm, lợi ích của bất động sản bị vây bọc và thiệt hại gây ra là ít nhất cho bất động sản có mở lối đi.

- Vị trí, giới hạn chiều dài, chiều rộng, chiều cao của lối đi do các bên thoả thuận, bảo đảm thuận tiện cho việc đi lại và ít gây phiền hà cho các bên; nếu có tranh chấp về lối đi thì có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định".

Ngoài ra điều luật này còn quy định "Trong trường hợp bất động sản được chia thành nhiều phần cho các chủ sở hữu, chủ sử dụng khác nhau thì khi chia phải dành lối đi cần thiết cho người phía trong mà không có đền bù".

 

Câu 3Anh Phan Hùng Cường (Đà Nẵng) hỏi: Trước đây Công ty Chúng tôi có nhận Quyền thương mại được nhượng từ một đơn vị khác để hoạt động sản xuất kinh doanh. Một đối tác khác của chúng tôi đang muốn chúng tôi tiếp tục nhượng quyền thương mại đó cho họ. Xin hỏi Quý báo pháp luật quy định điều kiện về việc này như thế nào?

Trả lời:

Vấn đề anh Cường thắc mắc, Điều 15 Nghị định 35/2006/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết Luật Thương mại về vấn đề Nhượng quyền thương mại có quy định như sau:  Bên nhận quyền được chuyển giao quyền thương mại cho bên dự kiến nhận quyền khác khi đáp ứng được các điều kiện sau đây:

(i)Bên dự kiến nhận chuyển giao phải là thương nhân có đăng ký kinh doanh ngành nghề phù hợp với đối tượng của Quyền thương mại.

(ii) Được sự chấp thuận của Bên nhượng quyền đã cấp quyền thương mại cho mình.

Khoản 4 điều này cũng quy định: "Bên chuyển giao quyền thương mại mất quyền thương mại đã chuyển giao. Mọi quyền và nghĩa vụ liên quan đến quyền thương mại của Bên chuyển giao được chuyển cho Bên nhận chuyển giao, trừ trường hợp có thoả thuận khác".

 

Câu 4: Chị Nguyễn Minh Hà (Hà Nội) hỏi: Trường hợp thông báo sai tuổi khi mua bảo hiểm nhân thọ, Pháp luật có điều chỉnh không và hệ quả của vấn đề này như thế nào?

Trả lời:

Luật về Kinh doanh Bảo hiểm quy định rõ "bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ thông báo chính xác tuổi của người được bảo hiểm vào thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm để làm cơ sở tính phí bảo hiểm". Hệ quả của vấn đề này, tùy từng trường hợp được quy định như sau: " (i) Trường hợp Bên mua bảo hiểm thông báo sai tuổi của người được bảo hiểm, nhưng tuổi đúng của người được bảo hiểm không thuộc nhóm tuổi có thể được bảo hiểm thì Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền hủy bỏ hợp đồng và hoàn trả số phí bảo hiểm đã đóng cho bên mua bảo hiểm sau khi đã trừ đi các chi phí hợp lý có liên quan. Trường hợp Hợp đồng bảo hiểm đã có hiệu lực từ hai năm trở lên thì DN bảo hiểm phải trả cho bên mua bảo hiểm giá trị hoàn lại của hợp đồng bảo hiểm. (ii) Trường hợp bên mua bảo hiểm thông báo sai tuổi của người được bảo hiểm làm giảm số phí bảo hiểm phải đóng, nhưng tuổi đúng của người được bảo hiểm vẫn có thể được bảo hiểm thì DN nghiệp bảo hiểm có quyền yêu cầu bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm bổ sung tương ứng với số tiền bảo hiểm đã thỏa thuận trong hợp đồng hoặc giảm số tiền bảo hiểm đã thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm tương ứng với số phí bảo hiểm đã đóng. (iii) Trường hợp bên mua bảo hiểm thông báo sai tuổi của người được bảo hiểm dẫn đến tăng số phí bảo hiểm phải đóng nhưng tuổi đúng của người được bảo hiểm vẫn thuộc nhóm tuổi có thể được bảo hiểm thì DN bảo hiểm phải hoàn trả cho bên mua bảo hiểm số phí bảo hiểm vượt trội đã đóng hoặc tăng số tiền bảo hiểm đã thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm tương ứng số phí bảo hiểm đã đóng."

 

Câu 5. Anh Nguyễn Quyết Thắng (Hải phòng) hỏi: Pháp luật có quy định một trong những điều kiện để cấp giấy phép cho Doanh nghiệp có hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở Nước ngoài là DN phải đảm bảo tiền ký quỹ. Vậy khoản tiền ký quỹ này là như thế nào?

Trả lời:

Vấn đề tiền ký quỹ của Doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở Nước ngoài được quy định chi tiết tại điều 5 Nghị định 126/2007/NĐ-CP như sau:

" - Mức tiền ký quỹ là một tỷ đồng. Trường hợp tiền ký quỹ được sử dụng để giải quyết những vấn đề phát sinh liên quan đến người lao động thì trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày tiền ký quỹ được sử dụng, doanh nghiệp phải nộp bổ sung cho đủ mức tiền ký quỹ theo quy định. Doanh nghiệp ký quỹ tại Ngân hàng Thương mại nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính.

- Cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước có quyền sử dụng tiền ký quỹ của doanh nghiệp hoạt động dịch vụ để giải quyết các vấn đề phát sinh trong trường hợp doanh nghiệp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trong hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài"

Khoản 4 của Điều luật này còn quy định " Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn việc quản lý và sử dụng tiền ký quỹ của doanh nghiệp dịch vụ."

 

Câu 6Chị Nguyễn Thị Hồng Loan (Hà Nội) hỏi: Công ty chúng tôi đang chuẩn bị tiến hành các thủ tục để tuyên bố phá sản Doanh nghiệp. Tôi muốn hỏi về thứ tự phân chia tài sản được quy định như thế nào?

Trả lời:

Điều 37 Luật Phá sản có quy định về thứ tự phân chia tài sản tùy vào từng trường hợp như sau:

- Trường hợp Thẩm phán ra quyết định mở thủ tục thanh lý đối với Doanh nghiệp, hợp tác xã thì việc phân chia giá trị tài sản của DN, HTX như sau: (1) Phí phá sản; (2) Các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật và các quyền lợi khác theo thỏa ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết; (3) Các khoản nợ khoongc ó bảo đảm phải trả cho các chủ nợ trong danh sách chủ nợ theo nguyên tắc nếu giá trị tài sản đủ để thanh toán các khoản nợ thì mỗi chủ nợ đều được thanh toán đủ số nợ của mình nếu giá trị tài sản  không đủ để thanh toán các khoản nợ thì mỗi chủ nợ chỉ được thanh toán một phần khoản nợ theo tỷ lệ tương ứng.

- Trường hợp giá trị tài sản của DN, HTX sai khi đã thanh toán đủ các khoản quy định tại khoản 1 điều này mà vẫn còn thì phần còn lại thuộc về: (1) Xã viên Hợp tác xã; (2) Chủ Doanh nghiệp tư nhân; (3) Các thành viên của Công ty, các cổ đông của công ty Cổ phần;  (4) Chủ sở hữu DN nhà nước.
 

Hỗ trợ tư vấn

Điện thoại:
Fax:
 
(+84-24)3.557.9668
 
(+84-24)3.557.9598
Email tư vấn: info@luatsutuvan.com.vn
icon_email

Giải đáp pháp luật

Joomla Templates and Joomla Extensions by JoomlaVision.Com

Tổ chức liên kết

cong-chung
daugia
KK22

Liên kết website

bg_trai3