en vi

Thứ ba, 24/10/2017
Công ty Luật TNHH  Đào và Đồng nghiệp | Địa chỉ: Số 369, Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội | Điện thoại : (+84-24)3.557.9568*  Fax: (+84-24)3.557.9598 * Hotline: 0945.490.123
Công ty ký hợp đồng hợp tác kinh doanh với cá nhân?

Tham khảo trường hợp Công ty CP Tư vấn Đầu tư Rainwater ký hợp đồng môi giới với một cá nhân để cá nhân này làm trung gian giới thiệu khách hàng cho Công ty. Phí hoa hồng này được theo dõi riêng biệt đối với từng hợp đồng dịch vụ Công ty cung cấp, thì khi tính thuế Công ty hạch toán chi phí môi giới này vào loại chi phí nào?

Trường hợp Công ty ký hợp đồng hợp tác kinh doanh với cá nhân (cá nhân không đăng ký kinh doanh) để cùng thực hiện dịch vụ cho khách hàng của Công ty. Theo hợp đồng, Công ty sẽ xuất hoá đơn VAT cho khách hàng, còn cá nhân cùng đóng góp công sức và được hưởng 40% giá trị hợp đồng ký với khách hàng. Như vậy, doanh thu chịu thuế TNDN, chi phí được trừ đối với giao dịch này của Công ty được xác định như thế nào? Công ty có nghĩa vụ khấu trừ và nộp thuế cho cá nhân và thực hiện hạch toán kế toán các nghiệp vụ trên như thế nào?

Về vấn đề này, Bộ Tài chính trả lời như sau:

Do nội dung hỏi của Công ty CP Tư vấn Đầu tư Rainwater không nêu rõ thuộc đối tượng áp dụng chế độ kế toán nào, Bộ Tài chính hướng dẫn hạch toán kế toán với giả định Công ty thuộc đối tượng áp dụng Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của Bộ Tài chính cho mục đích lập và trình bày báo cáo tài chính. Công ty thực hiện như sau:

- Trường hợp Công ty ký hợp đồng môi giới với một cá nhân để làm trung gian giới thiệu khách hàng cho Công ty

Do đây là hợp đồng môi giới với cá nhân này làm trung gian giới thiệu khách hàng, bán sản phẩm của Công ty và Công ty phải trả chi phí môi giới thì chi phí môi giới này sẽ được phản ánh vào TK 641 - Chi phí bán hàng. Theo đó, Công ty hạch toán như sau:

+ Trường hợp chi trả tiền thù lao, dịch vụ thuê ngoài... ngay cho các cá nhân bên ngoài, ghi:

Nợ các TK 641 - Chi phí bán hàng (tổng số phải thanh toán)

Có TK 333 - Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước (3335) (số thuế TNCN phải khấu trừ) (nếu có).

Có các TK 111, 112 (số tiền thực trả).

+ Khi chi trả các khoản nợ phải trả cho các cá nhân bên ngoài Công ty, ghi:

Nợ TK 331 - Phải trả cho người bán (tổng số tiền phải trả).

Có TK 333 - Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước (số thuế TNCN phải khấu trừ).

Có TK 111, 112 (số tiền thực trả).

+ Khi nộp thuế TNCN vào Ngân sách Nhà nước thay cho người có thu nhập, ghi:

Nợ TK 333 - Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước (3335).

Có các TK 111, 112,...

- Trường hợp Công ty ký hợp đồng hợp tác kinh doanh với cá nhân để cùng thực hiện dịch vụ cho khách hàng

Khi hợp đồng quy định cá nhân cùng đóng góp công sức, không đóng góp vốn và hưởng cố định 40% giá trị hợp đồng ký với khách hàng mà không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của hợp đồng là lãi hay lỗ thì về bản chất, đây là hợp đồng thuê dịch vụ bên ngoài.

Khi xác định số tiền phải trả cho cá nhân, ghi:

Nợ các TK 627, 641, 642, 241,... (Tùy thuộc vào việc cá nhân đó đóng góp công sức cho hoạt động nào của hợp đồng).

Có TK 333 - Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước (số thuế TNCN phải khấu trừ) (nếu có).

Có các TK 111, 112, 331,... (số tiền thực trả).

Chính sách thuế khi hợp tác kinh doanh

- Đối với hoạt động môi giới

Điểm c, Khoản 2, Điều 2 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn: "Thu nhập từ tiền lương, tiền công là thu nhập người lao động nhận được từ người sử dụng lao động, bao gồm: ...

c) Tiền thù lao nhận được dưới các hình thức như: tiền hoa hồng đại lý bán hàng hóa, tiền hoa hồng môi giới; tiền tham gia các đề tài nghiên cứu khoa học, kỹ thuật; tiền tham gia các dự án, đề án; tiền nhuận bút theo quy định của pháp luật về chế độ nhuận bút; tiền tham gia các hoạt động giảng dạy; tiền tham gia biểu diễn văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao; tiền dịch vụ quảng cáo; tiền dịch vụ khác, thù lao khác".

Điểm i, Khoản 1, Điều 25 Thông tư số 111/2013/TT-BTC hướng dẫn: "i) Khấu trừ thuế đối với một số trường hợp khác

Các tổ chức, cá nhân trả tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động (theo hướng dẫn tại Điểm c, d, Khoản 2, Điều 2 Thông tư này) hoặc ký hợp đồng lao động dưới 3 tháng có tổng mức trả thu nhập từ 2.000.000 đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế theo mức 10% trên thu nhập trước khi trả cho cá nhân".

Căn cứ các quy định nêu trên, trường hợp Công ty ký hợp đồng với cá nhân để thực hiện các hoạt động môi giới bán hàng hóa và cá nhân được hưởng tiền hoa hồng môi giới thì TNCN được xác định là tiền lương tiền công. Công ty có trách nhiệm khấu trừ thuế TNCN theo mức 10% trên thu nhập trước khi trả cho cá nhân nếu khoản trả từ 2.000.000 đồng/lần trở lên.

- Đối với hoạt động hợp tác kinh doanh với tổ chức

Điểm n, Khoản 3, Điều 5 Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của Bộ Tài chính về thuế TNDN có hướng dẫn: "n) Đối với hoạt động kinh doanh dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh:

- Trường hợp các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh phân chia kết quả kinh doanh bằng doanh thu bán hàng hóa, dịch vụ thì doanh thu tính thuế là doanh thu của từng bên được chia theo hợp đồng".

Điều 4 Thông tư số 96/2015/TT-BTC ngày 22/6/2015 của Bộ Tài chính về thuế TNDN quy định: "Điều 4. Sửa đổi, bổ sung Điều 6 Thông tư số 78/2014/TT-BTC (đã được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 2, Điều 6 Thông tư số 119/2014/TT-BTC và Điều 1 Thông tư số 151/2014/TT-BTC) như sau:

"Điều 6. Các khoản chi được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế

1. Trừ các khoản chi không được trừ nêu tại Khoản 2 Điều này, doanh nghiệp được trừ mọi khoản chi nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau:

a) Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

b) Khoản chi có đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định của pháp luật.

c) Khoản chi nếu có hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ từng lần có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên (giá đã bao gồm thuế GTGT) khi thanh toán phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.

Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt thực hiện theo quy định của các văn bản pháp luật về thuế GTGT...".

Điểm a, Khoản 1, Điều 3 Thông tư số 92/2015/TT-BTC ngày 15/6/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn: "a) Cá nhân kinh doanh nộp thuế theo từng lần phát sinh gồm: cá nhân cư trú có phát sinh doanh thu kinh doanh ngoài lãnh thổ Việt Nam; cá nhân kinh doanh không thường xuyên và không có địa điểm kinh doanh cố định; cá nhân hợp tác kinh doanh với tổ chức theo hình thức xác định được doanh thu kinh doanh của cá nhân."

Theo Điểm b, Khoản 2, Điều 3 Thông tư số 92/2015/TT-BTC: "b) Tỷ lệ thuế tính trên doanh thu

Tỷ lệ thuế GTGT; tỷ lệ thuế TNCN đối với cá nhân nộp thuế theo từng lần phát sinh áp dụng như đối với cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán hướng dẫn tại Điểm b, Khoản 2, Điều 2 Thông tư này...

b.1) Tỷ lệ thuế tính trên doanh thu gồm tỷ lệ thuế GTGT và tỷ lệ thuế TNCN áp dụng đối với từng lĩnh vực ngành nghề như sau:

- Phân phối, cung cấp hàng hóa: tỷ lệ thuế GTGT là 1%; tỷ lệ thuế TNCN là 0,5%.

- Dịch vụ, xây dựng không bao thầu nguyên vật liệu; tỷ lệ thuế GTGT là 5%; tỷ lệ thuế TNCN là 2%.

- Sản xuất, vận tải, dịch vụ có gắn với hàng hóa, xây dựng có bao thầu nguyên vật liệu: tỷ lệ thuế GTGT là 3%; tỷ lệ thuế TNCN là 1,5%.

- Hoạt động kinh doanh khác: tỷ lệ thuế GTGT là 2%; tỷ lệ thuế TNCN là 1%".

Điểm b Khoản 1 Điều 7 Thông tư số 92/2015/TT-BTC hướng dẫn: "b) Cá nhân kinh doanh theo hình thức hợp tác kinh doanh với tổ chức, tài sản tham gia hợp tác kinh doanh thuộc sở hữu của cá nhân, xác định được doanh thu kinh doanh của cá nhân thì cá nhân ủy quyền cho tổ chức khai thuế và nộp thuế thay. Tổ chức có trách nhiệm khai thuế và nộp thuế thay cho cá nhân tại cơ quan thuế quản lý tổ chức".

Tại Điểm a.1 Khoản 2 Điều 3 Thông tư 92/2015/TT-BTC quy định: "a.1) Doanh thu tính thuế GTGT và doanh thu tính thuế TNCN là doanh thu bao gồm thuế (trường hợp thuộc diện chịu thuế) của toàn bộ tiền bán hàng, tiền gia công, tiền hoa hồng, tiền cung ứng dịch vụ được xác định theo hợp đồng bán hàng, gia công, hoa hồng, dịch vụ bao gồm cả khoản trợ giá, phụ thu, phụ trội; các khoản bồi thường, phạt vi phạm hợp đồng (đối với doanh thu tính thuế TNCN) mà cá nhân kinh doanh được hưởng không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền. Doanh thu tính thuế trong một số trường hợp như sau:..."

Theo trình bày của Công ty CP Tư vấn Đầu tư Rainwater, Công ty ký hợp đồng hợp tác kinh doanh với cá nhân không kinh doanh để cùng thực hiện dịch vụ cho khách hàng. Hợp đồng hợp tác kinh doanh theo hình thức Công ty xuất hóa đơn GTGT cho khách hàng, cá nhân được hưởng 40% giá trị hợp đồng (hợp tác kinh doanh theo hình thức chia doanh thu).

Căn cứ các quy định nêu trên, trường hợp Công ty ký hợp đồng hợp tác kinh doanh với cá nhân phát sinh doanh thu thì khi cung cấp dịch vụ cho khách hàng theo hợp đồng, Công ty có trách nhiệm xuất hóa đơn, ghi nhận doanh thu, xác định thu nhập tính thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định.

Căn cứ chứng từ chi theo hợp đồng hợp tác kinh doanh và khoản chi này có liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh thì Công ty được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN theo quy định.

Khi Công ty chia lại 40% doanh thu cho cá nhân, Công ty có trách nhiệm khai và nộp thuế thay thuế TNCN cho cá nhân hoặc cá nhân tự kê khai, nộp thuế TNCN đối với thu nhập nhận được từ hợp đồng hợp tác kinh doanh.

Nguồn: chinhphu.vn

Tính pháp lý của chi nhánh, văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài

Tính pháp lý của Chi nhánh, Văn phòng đại diện (VPĐD) được thể hiện qua một số quy định về chức năng, quyền và nghĩa vụcũng như tư cách pháp luật củangười đứng đầu của Chi nhánh, VPĐD.

Theo Luật Thương mại, thương nhân nước ngoài được định nghĩa là thương nhân được thành lập, đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nước ngoài hoặc được pháp luật nước ngoài cộng nhận . Cần lưu ý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập tại Việt Nam không phải là thương nhân nước ngoài.

Khác với Chi nhánh, VPĐD của các doanh nghiệp có vốn nước ngoài đã được thành lập tại Việt Nam , Bộ Công thương chịu trách nhiệm quản lý cấp phép và pháp luật thương mại điều chỉnh trực tiếp các hoạt động Chi nhánh, VPĐD của thương nhân nước ngoài.

Chức năng hoạt động của Chi nhánh, VPĐD

Điều 45 Luật Doanh nghiệp không quy định cụ thể về chức năng của Chi nhánh, VPĐD của doanh nghiệp đã thành lập tại Việt Nam. Trên tinh thần đó, Luật Thương mại đã quy định rõ nét hơn về chức năng cũng như quyền và nghĩa vụ của Chi nhánh, VPĐD của thương nhân nước ngoài, cụ thể như sau:

Chi nhánh: Hoạt động cung ứng dịch vụ trong các ngành dịch vụ, không bao gồm ngành dịch vụ mà việc thành lập Chi nhánh trong lĩnh vực đó được quy định tại văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành.

Trường hợp hoạt động trong các ngành, nghề mà pháp luật quy định phải có điều kiện thì chỉ được hoạt động khi đáp ứng các điều kiện theo quy định.

Văn phòng đại diện:

Thực hiện chức năng văn phòng liên lạc, tìm hiểu thị trường, xúc tiến thúc đẩy cơ hội đầu tư kinh doanh của thương nhân mà mình đại diện, không bao gồm ngành dịch vụ mà việc thành lập Văn phòng đại diện trong lĩnh vực đó được quy định tại văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành.
Có thể thấy, nội dung hoạt động của Chi nhánh có phần mở rộng hơn so với VPĐD trong hoạt động cung ứng dịch vụ của thương nhân nước ngoài. Đây chính là yếu tố tiên quyết mà thương nhân nước ngoài nên lưu ý khi hiện diện thương mại tại Việt Nam.

Quyền và nghĩa vụ của Chi nhánh, VPĐD

Giống:
Có quyền thuê trụ sở, thuê mua các phương tiện, vật dụng cần thiết cho hoạt động của Chi nhánh/VPĐD.
Tuyển dụng lao động Việt Nam hoặc lao động nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam
Có con dấu mang tên Chi nhánh/Văn phòng đại diện.
Trước ngày 30/1 hàng năm có trách nhiệm gửi báo cáo theo mẫu của Bộ Công thương về hoạt động của mình trong năm trước qua bưu điện tới Cơ quan cấp phép.
Khác:
Chi nhánh:
Mở tài khoản bằng đồng Việt Nam, bằng ngoại tệ tại ngân hàng được phép hoạt động tại Việt Nam.
Thực hiện các hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động thương mại khác phù hợp với giấy phép thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Giao kết hợp đồng tại Việt Nam phù hợp với nội dung hoạt động được quy định trong giấy phép thành lập Chi nhánh và theo quy định của Luật Thương mại.
Chuyển lợi nhuận ra nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Thực hiện chế độ kế toán theo quy định của pháp luật Việt Nam; trường hợp cần áp dụng chế độ kế toán.

Văn phòng đại diện:

Mở tài khoản bằng ngoại tệ, bằng đồng Việt Nam có gốc ngoại tệ tại ngân hàng được phép hoạt động tại Việt Nam và chỉ được sử dụng tài khoản này vào hoạt động của Văn phòng đại diện.
Hoạt động đúng mục đích, phạm vi và thời hạn quy định trong Giấy phép thành lập. (Khoản 1 Điều 17) Chỉ được phép thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại trong phạm vi mà Luật Thương mại cho phép.
Không được giao kết hợp đồng, sửa đổi, bổ sung hợp đồng đã giao kết của thương nhân nước ngoài, trừ trường hợp Trưởng Văn phòng đại diện có giấy ủy quyền hợp pháp của thương nhân nước ngoài hoặc các trường hợp pháp luật có quy định khác.
Không được thực hiện hoạt động sinh lợi trực tiếp tại Việt Nam.
Nộp thuế, phí, lệ phí và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Người đứng đầu Chi nhánh, VPĐD

Người đứng đầu Chi nhánh, VPĐD của thương nhân nước ngoài có vai trò khá giống với người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp tại Việt Nam. Người đứng đầu chịu trách nhiệm trước thương nhân nước ngoài về hoạt động của mình và của Chi nhánh, VPĐD trong phạm vi được ủy quyền.

Người đứng đầu chi nhánh, VPĐD của thương nhân nước ngoài khi xuất cảnh khỏi Việt Nam phải ủy quyền bằng văn bản cho người khác thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đứng đầu. Tuy nhiên, điểm khác biệt so với người đại diện theo pháp ở đây là việc ủy quyền này phải được sự đồng ý của thương nhân nước ngoài.

Người đứng đầu Chi nhánh, VPĐD do thương nhân nước ngoài lựa chọn phải thỏa mãn điều kiện luật định và không được kiêm nhiệm một số chức vụ quy định cụ thể tại Điều 33 Luật Thương mại.

Việc tham khảo, được tư vấn bởi những chuyên gia để hiểu rõ tính pháp lý của Chi nhánh, Văn phòng đại diện (VPĐD) sẽ giúp cho các thương nhân nước ngoài xác định được những bước đi tốt hơn ngay từ khi có ý định đầu tư và kinh doanh tại Việt Nam.

Nguồn: tapchitaichinh.vn

Thủ tục giải thể doanh nghiệp

Câu hỏi: Thủ tục giải thể doanh nghiệp thì cần chuẩn bị những giấy tờ gì?

Trả lời: 

Trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc việc giải thể và thanh toán hết các khoản nợ, người đại diện theo pháp luật của DN gửi hồ sơ giải thể đến cơ quan đăng ký kinh doanh hoặc cơ quan quản lý đầu tư có thẩm quyền. Hồ sơ giải thể DN quy định tại Luật DN bao gồm:

- Quyết định giải thể hoặc quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đầu tư hoặc quyết định của Toà án tuyên bố giải thể DN;

- Danh sách chủ nợ và số nợ đã thanh toán, gồm cả thanh toán hết các khoản nợ về thuế và nợ tiền đóng bảo hiểm xã hội;

- Danh sách người lao động hiện có và quyền lợi người lao động đã được giải quyết;

- Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đầu tư;

- Con dấu, Giấy chứng nhận đăng ký mẫu dấu, Giấy chứng nhận đăng ký mã số thuế của DN;

- Số hoá đơn giá trị gia tăng chưa sử dụng;

- Báo cáo tóm tắt về việc thực hiện thủ tục giải thể, trong đó có cam kết đã thanh toán hết các khoản nợ, gồm cả nợ thuế, giải quyết các quyền lợi hợp pháp của người lao động.

Đồng thời, thành viên HĐQT, thành viên HĐTV công ty TNHH, chủ sở hữu công ty, chủ DN tư nhân, giám đốc hoặc tổng giám đốc, thành viên hợp danh chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của hồ sơ giải thể DN.

Trường hợp hồ sơ giải thể không chính xác, giả mạo, thì các vị trí nói trên phải liên đới chịu trách nhiệm thanh toán số nợ chưa thanh toán, số thuế chưa nộp và quyền lợi của người lao động chưa được giải quyết; và chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật về những hệ quả phát sinh trong thời hạn 3 năm kể từ ngày nộp hồ sơ giải thể DN đến cơ quan đăng ký kinh doanh hoặc cơ quan nhà nước quản lý đầu tư có thẩm quyền.

Trong thời hạn 7 ngày làm việc, cơ quan nhận hồ sơ giải thể DN thông báo với cơ quan thuế, cơ quan công an về việc giải thể và xóa tên DN trong sổ đăng ký kinh doanh hoặc sổ đăng ký đầu tư, nếu cơ quan thuế và cơ quan công an có liên quan không có yêu cầu khác.

Nguồn: thoibaonganhang.vn

Tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa trong TPP

Câu hỏi: Theo Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) các doanh nghiệp xuất khẩu phải tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa, vậy doanh nghiệp cần làm thủ tục gì để có thể tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa?

Trả lời: 

Hiệp định TPP cho phép người xuất khẩu, người sản xuất và người nhập khẩu được tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa. Theo Hiệp định này, Việt Nam được áp dụng một số thời gian chuyển đổi như sau:

Đối với hàng nhập khẩu, Việt Nam được bảo lưu áp dụng hình thức nhà nhập khẩu tự chứng nhận xuất xứ sau 5 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực.

Đối với hàng xuất khẩu, có thể áp dụng song song 2 hình thức sau trong thời gian tối đa là 10 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực với Việt Nam:

- Cấp Giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) như hiện nay;

- Áp dụng cơ chế người xuất khẩu đủ điều kiện tự chứng nhận xuất xứ (approved exporter) (gần tương tự như trong ASEAN hiện nay);

Sau khoảng thời gian 10 năm này, Việt Nam sẽ phải áp dụng cơ chế tự chứng nhận xuất xứ hoàn toàn như các nước TPP khác.

Như vậy, doanh nghiệp xuất khẩu vẫn có thể xin cấp C/O bình thường trong vòng 10 năm sau khi Hiệp định có hiệu lực.

Để triển khai thực thi TPP, trong thời gian tới, sau khi Hiệp định TPP được Quốc hội phê chuẩn, Bộ Công Thương sẽ phối hợp với các Bộ, ngành liên quan ban hành các quy định và hướng dẫn doanh nghiệp việc tự chứng nhận xuất xứ.

Nguồn: chinhphu.vn

Nhập khẩu mặt hàng thực phẩm cần đăng ký cơ quan nào?

Công ty bà Nguyễn Ngọc Trang (TP. Hồ Chí Minh) có nhập khẩu lô hàng thực phẩm (bột thực phẩm). Bà Trang hỏi, công ty bà có cần đăng ký với Bộ Công Thương không? Hàng tháng hay hàng năm có cần phải làm báo cáo với Bộ Công Thương không?

Về vấn đề này, Bộ Công Thương có ý kiến như sau:

Do Công ty không nêu rõ Công ty là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (doanh nghiệp FDI) hay doanh nghiệp trong nước; lô bột thực phẩm Công ty có nhu cầu nhập khẩu để kinh doanh hay phục vụ sản xuất. Vì vậy, Bộ Công Thương đưa thông tin về nguyên tắc để Công ty tham khảo:

Đối với hoạt động nhập khẩu nguyên liệu phục vụ sản xuất: Hàng hóa nhập khẩu phải tuân thủ quy định chung tại Nghị định số 187/2013/NĐ-CP của Chính phủ và các Thông tư hướng dẫn có liên quan của các Bộ, ngành.

Nếu Công ty là doanh nghiệp FDI, đề nghị Công ty nghiên cứu các quy định về hoạt động xuất nhập khẩu, thanh lý tại Thông tư số 04/2007/TT-BTM ngày 4/4/2007 của Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương) để thực hiện theo quy định.

Đối với hoạt động kinh doanh: Đối với doanh nghiệp FDI thực hiện theo Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp và các văn bản liên quan như: Nghị định số 23/2007/NĐ-CP của Chính phủ, Thông tư số 08/2013/TT-BCT của Bộ Công Thương.

Ngoài ra, khi nhập khẩu Công ty phải tuân thủ quy định tại Điều 38 Luật An toàn thực phẩm và thực hiện theo Thông tư số 28/2013/TT-BCT của Bộ Công Thương.

Nguồn: chinhphu.vn

Miễn trách nhiệm trong trường hợp bất khả kháng

Công ty cổ phần Công nghệ và Thiết bị công nghiệp (TP. Hà Nội) ký hợp đồng cung cấp một số thiết bị phục vụ công tác nghiệp vụ an ninh cho Công an tỉnh Vĩnh Phúc.

Tuy nhiên, trong danh mục hàng hóa theo hợp đồng có 1 mặt hàng xuất xứ Hoa Kỳ mà Công ty không nhập khẩu được do không thuộc danh mục được phép xuất khẩu trong thỏa thuận giữa Việt Nam và Hoa Kỳ.

Công ty đã liên lạc với nhà sản xuất khác tại châu Âu và được xác nhận có thể cung cấp mặt hàng này. Đại diện công ty, bà Nguyễn Thị Minh Thu hỏi, việc Công ty của bà không mua được hàng hóa có xuất xứ Hoa Kỳ thì có được coi là trường hợp bất khả kháng không? Nếu là trường hợp bất khả kháng, Chủ đầu tư có quyền cho phép hoặc không cho phép nhà thầu thay đổi xuất xứ hàng hóa không?


Về vấn đề này, Bộ Công Thương có ý kiến như sau:

Phù hợp với thông lệ quốc tế và Luật Thương mại Việt Nam năm 2005, Điều 12 mục 1 của Hợp đồng đã quy định rõ: “Bất khả kháng là một sự kiện rủi ro không thể chống đỡ khi nó xảy ra và không thể lường trước khi ký kết hợp đồng như: động đất, bão, lũ, lụt, lốc, sóng thần, lở đất hay hoạt động núi lửa, chiến tranh, dịch bệnh, sự thay đổi quy định của Nhà nước hoặc những thảm họa tương tự”.

Như vậy, có xảy ra bất khả kháng hay không đối với việc mua một mặt hàng thuộc danh mục qụản lý hạn chế xuất khẩu của Hoa Kỳ phụ thuộc vào thời điểm có hiệu lực của quy định này so với thời điểm ký kết Hợp đồng. Vậy, nếu quy định hạn chế xuất khẩu của Hoa Kỳ có hiệu lực trước khi ký Hợp đồng thì trường hợp này không được coi là bất khả kháng.

Nếu có xảy ra trường hợp bất khả kháng theo Hợp đồng, thì nhà thầu được miễn thực hiện các nghĩa vụ liên quan đến bất khả kháng sau khi tiến hành các nghĩa vụ thông báo theo quy định tại Điều 12 và việc chuyển đổi hoặc thay thế sản phẩm liên quan đến bất khả kháng sẽ phụ thuộc vào thoả thuận đạt được giữa các bên của Hợp đồng.

Nguồn: chinhphu.vn

Các mức thuế suất nhập khẩu ưu đãi đặc biệt

Công ty của ông Nguyễn Hữu Tuân nhập khẩu hàng hóa của 1 công ty Nhật Bản, thực hiện thanh toán qua tài khoản của đối tác ở ngân hàng tại Nhật Bản. Tuy nhiên, hàng hóa này được sản xuất tại Trung Quốc, nên giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O), vận đơn đường biển (B/L), phiếu đóng gói hàng (P/L) đều được phát hành tại Trung Quốc.

Các mã hàng đã được khai và hải quan chấp nhận mã như sau: 62092090, 62132090, 62160092, 96190019. Ông Tuân hỏi, trong trường hợp này, công ty của ông được hưởng ưu đãi thuế nhập khẩu theo phương án nào? Áp dụng C/O Form E hay C/O VJ để được hưởng ưu đãi thuế? Văn bản nào quy định về trường hợp của công ty ông?

Về vấn đề này, Tổng cục Hải quan trả lời như sau:

Các mức thuế suất nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN- Trung Quốc (ACFTA) giai đoạn 2015-2018 được quy định tại Biểu thuế ban hành kèm theo Thông tư số 166/2014/TT-BTC ngày 14/11/2014 và điều kiện để hàng hóa nhập khẩu được áp dụng thuế suất ACFTA được quy định tại Điều 2 Thông tư này.

Các mức thuế suất nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định Đối tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản (VJEPA) giai đoạn 2015-2019 được quy định tại Biểu thuế ban hành kèm theo Thông tư số 25/2015/TT-BTC ngày 14/2/2015 và điều kiện để hàng hóa nhập khẩu được áp dụng thuế suất VJEPA được quy định tại Điều 2 Thông tư này.

Các mức thuế suất nhập khẩu ưu đãi đặc biệt hiện hành của các mã số đã nêu như sau:

Mã số

ACFTA
(Thông tư số 166/2014/TT-BTC)

VJEPA
(Thông tư số 25/2015/TT-BTC)

62092090

 0

7

62132090

0

7

62160092

0

7

96190019

5

9

Vì vậy, Tổng cục Hải quan đề nghị Công ty nghiên cứu nội dung tại 2 Thông tư trên để thực hiện theo đúng quy định.

Nguồn: chinhsphu.vn

Kê khai thuế GTGT theo tháng hay quý?

Câu hỏi: Kê khai thuế GTGT theo tháng hay quý?

Trả lời: Cục Thuế TP Hà Nội hướng dẫn như sau:

Căn cứ Điều 15 Chương IV Thông tư 151/2014/TT-BTC ngày 10/10/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 91/2014/NĐ-CP ngày ngày 1/10/2014 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều tại các Nghị định quy định về thuế sửa đổi, bổ sung điểm b, Khoản 2 Điều 11 Thông tư 156/2013/TT-BTC như sau:

“b) Khai thuế giá trị gia tăng theo quý.

b.1) Đối tượng khai thuế GTGT theo quý

Khai thuế theo quý áp dụng đối với người nộp thuế giá trị gia tăng có tổng doanh thu bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ của năm trước liền kề từ 50 tỷ đồng trở xuống.

Trường hợp người nộp thuế đủ điều kiện và thuộc đối tượng khai thuế GTGT theo quý muốn chuyển sang khai thuế theo tháng thì gửi Thông báo (theo Mẫu 07/GTGT ban hành kèm theo Thông tư này) cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp chậm nhất là cùng với thời hạn nộp tờ khai thuế GTGT của tháng đầu tiên của năm bắt đầu khai thuế GTGT theo tháng”.

Căn cứ quy định trên, trường hợp Công ty của bà Tuyến thành lập từ năm 2008 và doanh thu bán hàng hóa cung ứng dịch vụ 2013 của Công ty dưới 50 tỷ đồng thì Công ty được khai thuế GTGT theo quý từ ngày 1/10/2014 và ổn định cho đến hết ngày 31/12/2016.

Trường hợp Công ty muốn khai thuế GTGT theo tháng thì gửi Thông báo (theo Mẫu 07/GTGT ban hành kèm theo Thông tư số 151/2014/TT-BTC) cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp chậm nhất là cùng với thời hạn nộp tờ khai thuế GTGT của tháng đầu tiên của năm bắt đầu khai thuế GTGT theo tháng.

Nguồn: chinhphu.vn

Xuất hoá đơn sau thời điểm giao hàng có bị xử phạt?

Câu hỏi: Xuất hoá đơn sau thời điểm giao hàng có bị xử phạt?

Trả lời: Trường hợp lập hoá đơn không đúng thời điểm theo quy định của pháp luật về hoá đơn bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, sẽ bị phạt tiền từ 4 đến 8 triệu đồng.
Căn cứ khoản 1 Điều 6 Thông tư 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014, Điều 15 Thông tư 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013, điểm a khoản 2 Điều 6 Thông tư 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014 của Bộ Tài chính và căn cứ điểm a khoản 3 Điều 38 Nghị định số 109/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ, trường hợp công ty lập hoá đơn sau thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá cho người mua là vi phạm quy định về sử dụng hoá đơn của người bán thì bị xử lý như sau:

Đối với người bán, Công ty bị xử phạt theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 38 Nghị định 109/2013/NĐ-CP.

Đối với người mua, nếu hoạt động mua bán hàng hoá nêu trên liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh, có đủ hoá đơn, chứng từ hợp pháp và đáp ứng các điều kiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào thì người mua được hạch toán vào chi phí hợp lý khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp, được thực hiện kê khai khấu trừ thuế GTGT theo quy định.

Nguồn: chinhphu.vn

Điều kiện thành lập cơ sở bán lẻ của Cty có vốn nước ngoài


Câu hỏi từ độc giả Bà Lê Thu Miền: Công ty tôi là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, nay muốn thành lập cơ sở bán lẻ thì có cần yêu cầu thời gian hoạt động bao lâu?

Câu trả lời từ  Bộ Công Thương như sau:

Câu hỏi của bà Miền chưa làm rõ yêu cầu hoạt động đối với công ty hay đối với cơ sở bán lẻ. Tuy nhiên, Nghị định số 23/2007/NĐ-CP ngày 12/2/2007 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hoá và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hoá của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và Thông tư số 08/2013/TT-BCT của Bộ trưởng Bộ Công Thương quy định chi tiết về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam không quy định yêu cầu về thời gian hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong trường hợp thành lập cơ sở bán lẻ.

Căn cứ Nghị định số 23/2007/NĐ-CP và Thông tư số 08/2013/TT-BCT, việc lập cơ sở bán lẻ của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thực hiện như sau:

Đối với cơ sở bán lẻ thứ nhất: Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã có quyền phân phối được lập cơ sở bán lẻ thứ nhất mà không phải làm thủ tục đề nghị cấp Giấy phép lập cơ sở bán lẻ theo quy định tại Nghị định này (khoản 4 Điều 5 Nghị định 23/2007/NĐ-CP).

Đối với cơ sở bán lẻ ngoài cơ sở bán lẻ thứ nhất: Việc lập thêm cơ sở bán lẻ ngoài cơ sở bán lẻ thứ nhất do UBND cấp tỉnh quyết định theo hướng dẫn của Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương) và theo trình tự, thủ tục quy định tại Nghị định này (khoản 4 Điều 5 Nghị định 23/2007/NĐ-CP). Việc lập cơ sở bán lẻ ngoài cơ sở bán lẻ thứ nhất được xem xét từng trường hợp cụ thể căn cứ vào việc kiểm tra nhu cầu kinh tế của địa bàn nơi đặt cơ sở bán lẻ theo các tiêu chí: số lượng các cơ sở bán lẻ, sự ổn định của thị trường, mật độ dân cư và quy mô của địa bàn cấp quận, huyện nơi dự kiến đặt cơ sở bán lẻ. Trình tự, thủ tục bao gồm các bước cơ bản sau:

- Doanh nghiệp nộp hồ sơ cho UBND cấp tỉnh, nơi dự kiến đặt cơ sở bán lẻ;

- Cơ quan tiếp nhận hồ sơ kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ và gửi hồ sơ lấy ý kiến của Bộ Công Thương.

- Sau khi có ý kiến chấp thuận của Bộ Công Thương, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy phép lập cơ sở bán lẻ.

Về thời hạn của Giấy phép lập cơ sở bán lẻ

Khoản 2 Điều 15 Nghị định 23/2007/NĐ-CP quy định: “Trong trường hợp được quy định tại khoản 4 Điều 5 Nghị định này (Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã có quyền phân phối được lập cơ sở bán lẻ thứ nhất mà không phải làm thủ tục đề nghị cấp Giấy phép lập cơ sở bán lẻ theo quy định tại Nghị định này. Việc lập thêm cơ sở bán lẻ ngoài cơ sở bán lẻ thứ nhất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định theo hướng dẫn của Bộ Thương mại và theo trình tự, thủ tục quy định tại Nghị định này), thời hạn hiệu lực của Giấy phép lập cơ sở bán lẻ bằng thời hạn hiệu lực của Giấy phép kinh doanh”.

Khoản 2 Điều 9 Nghị định 23/2007/NĐ-CP quy định “Đối với trường hợp quy định tại Điều 5 Nghị định này, thời hạn hiệu lực của Giấy phép kinh doanh bằng thời hạn hoạt động của dự án đầu tư được ghi trong Giấy chứng nhận đầu tư”.

Nguồn: chinhphu.vn

 

DN chậm nộp C/O, có được hưởng ưu đãi?

Công ty ông Trần Lê Hòa chuyên nhập khẩu dầu từ các nước Indonesia, Malaysia. Theo quy định, để được hưởng ưu đãi, trước khi nhập cảng, doanh nghiệp phải cung cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O)- mẫu D bản gốc. Nhưng thực tế, thời gian tàu về tới cảng mất 5 ngày trong khi C/O gốc lại về sau từ 3-4 ngày.
Chính vì vậy, doanh nghiệp ông phải cử cán bộ sang Malaysia, Indonesia lấy C/O gốc theo đường hàng không để kịp khớp thời gian tàu cập cảng. Thực tế này đang khiến doanh nghiệp ông và các doanh nghiệp tương tự gặp không ít khó khăn trong việc bố trí nhân lực, chi phí đi lại (3-4 lần/tháng).

Doanh nghiệp ông cũng đã làm việc với phía đối tác đề nghị được cấp trước C/O bản gốc, nhưng hàng hóa nhập của công ty thuộc nhóm hàng lỏng nên việc cấp trước C/O bản gốc gặp khó khăn.

Để sớm có giải pháp tháo gỡ cho doanh nghiệp, ông Hòa kiến nghị các cấp có thẩm quyền sửa quy định cho phép doanh nghiệp được nộp trước bản sao C/O, sau đó sẽ bổ sung bản gốc.

Về vấn đề này, Cục Giám sát quản lý về Hải quan - Tổng cục Hải quan có ý kiến như sau:

Theo Hiệp định thương mại hàng hóa ATIGA (được nội luật hóa tại Phụ lục 7 Thông tư số 21/2010/TT-BCT ngày 17/5/2010 và Thông tư số 42/2014/TT-BCT ngày 18/11/2014 của Bộ Công Thương) thì:

Cấp C/O

- C/O được Cấp vào thời điểm xuất khẩu hoặc một thời gian ngắn sau đó, nếu, theo các quy tắc xuất xứ quy định tại Phụ lục 1, hàng hóa xuất khẩu được xác định là có xuất xứ từ lãnh thổ của Nước thành viên xuất khẩu.

- Trường hợp ngoại lệ khi C/O không được cấp vào thời điểm xuất khẩu hoặc sau 3 ngày tính từ ngày xuất khẩu do sai sót, sự bỏ quên không cố ý hoặc có lý do chính đáng, C/O có thể được cấp sau nhưng không quá 1 năm kể từ ngày hàng được chất lên tàu và phải đánh dấu vào ô “Issued Retroactively”.

Nộp C/O

Để được hưởng ưu đãi thuế quan, tại thời điểm làm thủ tục nhập khẩu, người nhập khẩu phải nộp cho cơ quan Hải quan nước nhập khẩu tờ khai, C/O, kèm các chứng từ chứng minh (như hóa đơn thương mại, và vận tải đơn chở suốt được cấp trên lãnh thổ của Nước thành viên xuất khẩu khi được yêu cầu) và các tài liệu khác theo quy định của pháp luật Nước thành viên nhập khẩu.

Theo khoản 5, Mục II, Thông tư số 45/2007/TT-BTC của Bộ Tài chính, trường hợp chưa nộp được C/O tại thời điểm đăng ký tờ khai hải quan, nếu có lý do chính đáng và người khai hải quan có văn bản đề nghị được chậm nộp C/O ưu đãi đặc biệt, cam kết nộp C/O đúng trong thời hạn cho phép thì Chi cục trưởng Hải quan quyết định gia hạn thời gian nộp C/O trong thời hạn không quá 30 ngày kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan.

Trường hợp người khai hải quan nộp C/O quá thời hạn 30 ngày đã được cho phép chậm nộp, nếu C/O còn hiệu lực và phù hợp với bộ chứng từ, với kết quả kiểm tra thực tế hàng hoá (trong trường hợp hàng hoá phải kiểm tra thực tế) thì cơ quan hải quan vẫn chấp nhận và áp dụng thuế suất ưu đãi đặc biệt cho lô hàng nhập khẩu.

Theo sự thống nhất giữa các nước Asean tại các Phiên họp của Tiểu ban quy tắc xuất xứ thì C/O có thể được cấp trước ngày xuất khẩu, riêng Indonesia và Myanmar không cấp C/O trước ngày xuất khẩu.

Đề nghị Công ty nghiên cứu các văn bản dẫn trên để nắm vững các quy định khi tiến hành nhập khẩu hàng hóa từ các nước Indonesia và Malaysia.

Nguồn: baodientu.chinhphu.vn

Bán hàng trên facebook có cần đăng ký, nộp thuế không?

Cục Thương mại điện tử và Công nghệ thông tin (TMĐT & CNTT) - Bộ Công Thương trả lời một số thắc mắc liên quan đến việc đăng ký và nộp thuế khi bán hàng qua mạng xã hội.
Câu hỏi từ Bà Nguyễn Thùy Dung (ntdung@...): Tôi có lập 1 gian hàng trên facebook để bán các sản phẩm handmade. Vậy tôi có phải đăng ký với Bộ Công Thương theo Thông tư số 47/2014/TT-BCT ngày 5/12/2014 quy định về quản lý website thương mại điện tử (TMĐT) không? Theo tôi tìm hiểu thì người bán hàng qua facebook phải nộp thuế, như vậy có đúng không?

Cục TMĐT&CNTT trả lời: Thứ nhất, người bán hàng trên mạng xã hội không phải đăng ký với Bộ Công Thương. Tuy nhiên, các hoạt động mua bán của bạn vẫn được điều chỉnh theo các quy định pháp luật liên quan.

Thứ hai, theo Thông tư số 47/2014/TT-BCT quy định về quản lý website thương mại điện tử, các mạng xã hội có một trong các hình thức hoạt động sau sẽ phải tiến hành thủ tục đăng ký với Bộ Công Thương dưới hình thức sàn giao dịch thương mại điện tử, bao gồm: (a) website cho phép người tham gia được mở các gian hàng trên đó để trưng bày, giới thiệu hàng hóa hoặc dịch vụ; (b) website cho phép người tham gia được lập các website nhánh để trưng bày, giới thiệu hàng hóa hoặc dịch vụ; (c) website có chuyên mục mua bán, trên đó cho phép người tham gia đăng tin mua bán hàng hóa và dịch vụ.

Khi đó, bạn thiết lập 1 gian hàng để tiến hành bán hàng trên các mạng xã hội thì phải tuân thủ quy định tại Điều 37, Nghị định số 52/2013/NĐ-CP có quy định về trách nhiệm của người bán trên sàn giao dịch TMĐT, cụ thể:

- Cung cấp đầy đủ và chính xác thông tin như tên, địa chỉ, số điện thoại của người bán, mã số thuế cá nhân (nếu có)… cho chủ sàn giao dịch TMĐT khi đăng ký sử dụng dịch vụ.

- Cung cấp đầy đủ thông tin về hàng hóa, dịch vụ theo quy định khi bán hàng hóa.

- Đảm bảo tính chính xác, trung thực về thông tin của hàng hóa, dịch vụ cung cấp hàng hóa trên sàn giao dịch TMĐT.

- Tuân thủ quy định của pháp luật về thanh toán, quảng cáo, khuyến mãi, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và các quy định của pháp luật có liên quan khác khi bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ trên sàn giao dịch TMĐT.

- Thực hiện các quy định tại Mục 2 Chương II của Nghị định số 52/2013/NĐ-CP khi ứng dụng chức năng đặt hàng trực tuyến trên sàn giao dịch TMĐT.

- Cung cấp tình hình kinh doanh của mình khi có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để phục vụ hoạt động thống kê TMĐT.

- Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật.

Về nghĩa vụ thuế, bạn cần tuân thủ theo nguyên tắc Luật Quản lý thuế, đã kinh doanh thì phải thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà nước. Đó là quyền và nghĩa vụ của bất cứ cá nhân hay doanh nghiệp nào.

Ông Nguyễn Tuấn Ngọc (nguyenngoc@...): Tôi dự định bán hàng qua mạng xã hội, vậy tôi có phải đóng thuế không? Tôi phải áp dụng văn bản nào về vấn đề này?

Cục TMĐT&CNTT trả lời: Theo nguyên tắc Luật Quản lý thuế, đã kinh doanh thì phải thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà nước. Đó là quyền và nghĩa vụ của bất cứ cá nhân hay doanh nghiệp nào.

Nghị định số 52/2013/NĐ-CP về thương mại điện tử do Chính phủ ban hành ngày 16/5/2013 quy định: “Người bán hàng trên sàn giao dịch TMĐT phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật”.

Như vậy, nếu mạng xã hội có hoạt động dưới hình thức sàn giao dịch TMĐT thì người bán hàng trên đó cũng phải thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật. Việc kê khai thuế, cách thức thu thuế, mức thuế, loại thuế... được áp dụng theo các quy định pháp luật hiện hành về thuế và quản lý thuế.

Ông Nguyễn Văn Minh (Hà Nội): Tôi có ý định thành lập 1 trang web với mục đích chia sẻ thông tin và không có mục đích thương mại. Hiện tôi chưa có mã số thuế cá nhân, vậy tôi có cần phải đăng ký với Bộ Công Thương không? Ngoài ra, tôi có phải đóng thuế cho website của mình hay không?

Cục TMĐT&CNTT trả lời: Nếu website của ông phục vụ hoạt động xúc tiến thương mại, bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ của mình hoặc cho phép doanh nghiệp, cá nhân khác đăng thông tin phục vụ hoạt động xúc tiến thương mại, bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ, ông cần thực hiện thủ tục thông báo/đăng ký với Bộ Công Thương.

Để thực hiện thủ tục này ông cần có mã số thuế cá nhân (thực hiện thủ tục thông báo website TMĐT bán hàng) và Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (thực hiện thủ tục đăng ký website cung cấp dịch vụ TMĐT).

Trong trường hợp ông không thuộc đối tượng phải đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật về đăng ký kinh doanh, ông cần đăng ký mã số thuế cá nhân tại cơ quan thuế ở địa phương.

Việc đóng thuế đối với hoạt động kinh doanh trên website của quý vị thực hiện theo quy định pháp luật về thuế.

Trường hợp website của ông đăng tải, chia sẻ thông tin tổng hợp, đề nghị liên lạc với Bộ Thông tin và Truyền thông để được giải đáp các thủ tục liên quan (đăng ký trang thông tin tổng hợp).

Nguồn: chinhphu.vn

Trường hợp nào sử dụng hóa đơn thương mại thay thế hóa đơn Xuất Khẩu?


Tổng cục Hải quan nhận được phản ánh vướng mắc của một số doanh nghiệp liên quan đến việc áp dụng văn bản hướng dẫn sử dụng hóa đơn trong bộ hồ sơ hải quan khi làm thủ tục xuất khẩu.
Về vấn đề này, Tổng cục Hải quan hướng dẫn thống nhất như sau:

Theo hướng dẫn tại Công văn số 11352/BTC-TCHQ ngày 14/8/2014 của Bộ Tài chính, hồ sơ hải quan khi làm thủ tục xuất khẩu ra nước ngoài, xuất nhập khẩu tại chỗ theo chỉ định của thương nhân nước ngoài thì sử dụng hóa đơn thương mại thay thế hóa đơn xuất khẩu.

Trường hợp doanh nghiệp nội địa xuất khẩu hàng hóa vào khu phi thuế quan, doanh nghiệp nội địa bán hàng hóa cho doanh nghiệp chế xuất thì sử dụng hóa đơn giá trị gia tăng hoặc hóa đơn bán hàng theo quy định tại Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014 của Bộ Tài chính

Nguồn: chinhphu.vn

Tình huống về kinh doanh qua mạng và hậu quả pháp lý của giao dịch

Tình huống: Câu chuyện về Kinh doanh qua mạng và hệ quả pháp lý của giao dịch

(Hai diễn viên nữ trẻ)

Tại nhà Hoa, Hoa đang ngồi ngắm ngắm vuốt vuốt thì Hồng bước vào...trên tay cầm theo cái áo :

Hồng: Xin chào tiểu thư ! Hôm nay không phải đi làm hay sao mà ngồi tút tát nhan sắc sớm thế ! Chắc hôm nay có chương trình gì đặc biệt phải không !?

Hoa : Lỡm ạ, người đâu và vô duyên thế không biết, con gái con lứa phải « rịu ràng, ruyên ráng » chứ ai lại cứ bô bô như mày thế !

Hồng : Đấy, bạn bè mới có thế thôi đã quở mắng nhau rồi kìa...

Hoa : Mà này ! Hôm nay sang đây chơi hay là để gây sự đấy !?

Hồng : Híc.. sao lại xuống giọng nhanh thế chứ nị...  hôm nay tao mua được cái áo này đẹp mà rẻ cực. Thích quá nên phải mang sang đây khoe ngay với mày. (giơ áo ra khoe) 

Hoa: Đâu đưa đây xem nào....(ngắm nghía một hồi) : Ôi giời, tưởng gì...tao cũng vừa mua cái áo y hệt thế này hôm trước. Nhưng chỉ khác màu thôi. Tối nay đang định diện đi chơi rồi khoe mày một thể đây. Thế mày mua bao nhiêu tiền mà rẻ ?

Hồng : Tao mua có 200 nghìn thôi, rẻ và đẹp quá nên đang định sang bảo mày để mày cùng mua, thế mà đã mua rồi ah ?

Hoa: ( sửng sốt ) : Cái gì cơ, 200 nghìn á ? Tao mua những 500 nghìn cơ. Để xem chất liệu có gì khác không nào (sờ sờ kiểm tra) ... Ôi, y hệt, mày mua ở đâu mà chỉ có 200 nghìn thôi ?

Hồng : Tao mua ở một shop bán hàng online trên mạng...

Hoa : Cái gì ? Sao lại mua trên mạng ? Mày định lừa tao đấy à ?

Hồng : Tao rỗi hơi mà đi lừa mày à ? Thế mày không tin à ?!. Đúng là về khoản xinh đẹp, chịu chơi tao không bằng mày nhưng về cái khoản chạy theo công nghệ thì có lẽ mày phải học tao rồi...ha..ha...

Cổ nhân nói không sai : « Trời không cho ai hết cái gì và cũng không lấy hết của ai cái gì bao giờ »

Hoa : Ôi kinh !, hôm nay lại còn văn veo nữa cơ đấy ! Thế sự thể thế nào mày nói tao nghe coi !

Hồng : Nói thế thôi chứ tao thì tao cũng không hiểu lắm, thấy người ta chào bán, rẻ thì mua thôi ! tao nghe nói vì bán online không mất phí thuê cửa hàng, cũng chẳng cần giấy phép kinh doanh... nên giá bán rẻ hơn so với các cửa hàng quần áo bình thường, giờ người ta mua đồ trên mạng nhiều lắm, đẹp mà rẻ.

Hoa: Sao lại thế được, nếu thế thì tại sao tao phải mua hàng đắt hơn gấp đôi với cùng 1 cái áo, thế thì các cửa hàng quần áo mở ra bây giờ thì ai mua nữa ? Mà nếu bán hàng kiểu thế thì bây giờ bán gì cũng online cho nó đỡ mất chi phí hết ah ?

Hồng : Mày hỏi tao tao biết hỏi ai ?! Mà thôi, mày thắc mắc làm gì nhiều... rẻ thì mua, đắt thì chịu thua, mình không mua có ai bắt mình mua đâu... ?!

Hoa : Nói như mày thì nói làm gì...(suy nghĩ một lát Hoa chợt bừng tỉnh).. Mà này, mày cận thận với mấy cái trò mua bán qua mạng đấy không rồi có ngày chết không kịp ngáp đâu..

Hồng : Cái gì, mày lại định doạ tao đấy à ?! Thời buổi này là thời buổi nào rồi mà mày còn cứ như bà cụ thế !?

Hoa : Tao nói thế không phải không có lý do đâu, thực ra cái áo của mày thì tao không biết thật giả thế nào nên cũng không dám ý kiến nhưng mày có biết không, mới tháng trước anh Tam bạn tao cũng nghe lời trèo kéo trên mạng, anh ấy mua cái điện thoại Iphone 5 trên mạng, giá chỉ có 6,5 triệu trong khi giá ngoài thị trường thì rẻ cũng phải hơn 10 triệu.

Mày có biết rốt cục thế nào không ?

Hồng : Thế nào nào?

Hoa : Bên bán nói rằng cái điện thoại có giá trị lớn nên phải trả trước 50% rồi mới giao hàng và nhận nốt tiền, vì tham rẻ anh Tam đã nghe theo và chuyển tiền vào tài khoản cho họ.

Hồng : Rồi sao nữa ?

Hoa: Thì mày cứ bình tĩnh đã...

Sau khi anh Tam chuyển xong 50% họ cũng giao hàng như đã hẹn và đòi tiền luôn, theo thoả thuận anh Tam đã trả hết tiền...

Nhận máy rồi anh ấy mang ra của hàng chuyên về điện thoại này thì được biết đó không phải là hàng chính hãng, mặc dù lúc chào hành nó cứ khăng khăng khẳng định là hàng xách tay còn duy nhất một chiếc...

Hồng : Lại còn có chuyện đó nữa cơ à ?

Hoa : Đấy chỉ là một ví dụ nhỏ thôi, còn nhiều chuyện tày đình lắm !

Hồng : Như thế thì cũng sợ nhỉ !? Thật giả lẫn lộn, chẳng biết thế nào mà lần...


Câu hỏi trường quay (Hồng vào trường quay)

Câu hỏi 1. Vâng, thưa luật sư, vậy như bạn em nói, các cửa hàng online bán hàng rẻ hơn do không cần đăng ký kinh doanh, thuê cửa hàng, và những chi phí phụ ... Họ làm như vậy có vi phạm pháp luật gì không ạ ?

Bạn của bạn nói như vậy là không đúng. Hoạt động bán hàng online trên được coi là hoạt động thương mại, người thực hiện hoạt động thương mại là các thương nhân. Để được coi là thương nhân, người hoạt động thương mại phải thực hiện đăng ký doanh nghiệp theo một trong hai hình thức là hộ kinh doanh hoặc doanh nghiệp (các loại hình công ty). Đăng ký kinh doanh là nghĩa vụ của thương nhân (Luật thương mại 2005).

Điều 49 Nghị định 43/2012/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp quy định :

Điều 49. Hộ kinh doanh 

1. Hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh.

2. Hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký, trừ trường hợp kinh doanh các ngành, nghề có điều kiện. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định mức thu nhập thấp áp dụng trên phạm vi địa phương.

3. Hộ kinh doanh có sử dụng thường xuyên hơn mười lao động phải chuyển đổi sang hoạt động theo hình thức doanh nghiệp.

Như vậy, theo quy định trên thì chỉ một số hoạt động kinh doanh nhất định quy định tại khoản 2 là không phải thực hiện đăng ký kinh doanh còn lại bắt buộc phải thực hiện. Kinh doanh quy mô nhỏ thì có thể lựa chọn hình thức hộ kinh doanh còn kinh doanh quy mô lớn thì phải chuyển sang loại hình doanh nghiệp.

Khi đã đăng ký kinh doanh thì thương nhân phải có địa chỉ trụ sở chính. Trụ sở chính có thể đồng thời hoặc không đồng thời là địa điểm kinh doanh. Tùy thuộc vào quy mô kinh doanh mà thương nhân có thể kinh doanh tại trụ sở chính hoặc lập thêm địa điểm kinh doanh khác.

Việc bán hàng online chỉ là một phương pháp, phương tiện để thực hiện hoạt động kinh doanh, thương nhân vẫn phải thực hiện thủ tục đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật.

Việc có mất các chi phí phụ mà bạn nói, tôi không rõ ý bạn là các chi phí nào. Tuy nhiên, khi đã kinh doanh là doanh nghiệp phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế môn bài và các loại thuế, nghĩa vụ tài chính khác đối với nhà nước theo quy định của pháp luật. Các chi phí khác mà thương nhân hạn chế được có thể là không phải thuê nhân viên bán hàng, thuê mặt bằng, địa điểm kinh doanh đẹp… Song, để được kinh doanh qua mạng, thương nhân cũng phải bỏ ra những chi phí nhất định để sử dụng dịch vụ đó. Còn về vấn đề giá thành sản phẩm có rẻ hay không là hoàn toàn phụ thuộc vào người bán hàng sau khi đã cân đối thu, chi và kế hoạch kinh doanh của mình.

Câu hỏi 2. Vâng thưa luật sư, em cũng đã hiểu hơn rồi ạ, nhưng theo em thấy thì trên thị trường bây giờ có rất nhiều trường hợp mua bán hàng online tại nhà riêng mà ko đăng kí giấy phép kinh doanh, thậm chí còn có hàng loạt các diễn đàn phục vụ việc này, nhưng chưa có bất kì trường hợp nào bị làm sao cả ? Thế là thế nào ạ ?

Đó là hiện tượng thực tế vẫn đang xảy ra rất phổ biến và là hành vi vi phạm quy định của pháp luật về đăng ký doanh nghiệp. Tuy nhiên, cũng không phải như bạn nói là chưa có bất cứ trường hợp nào bị xử lý, chỉ là việc xử lý chưa hết, chưa triệt để mà thôi. Điều này xuất phát từ cách quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc thanh tra, phát hiện các hành vi vi phạm còn chưa được chặt chẽ. Hành vi vi phạm này do nhiều nguyên nhân: có thể do người kinh doanh không hiểu biết pháp luật, không biết rằng họ phải thưc hiện đăng ký doanh nghiệp trước khi thực hiện hoạt động kinh doanh; hoặc có thể biết nhưng cố tình trốn tránh để khỏi phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp; các cơ quan quản lý không phát hiện hoặc phát hiện nhưng chưa xử lý triệt để… Do đó, cần xiết chặt hoạt động quản lý, tăng cường thanh tra phát hiện hành vi vi phạm và xử lý kịp thời theo đúng quy định của pháp luật.

Câu hỏi 3. Thưa luật sư, em tìm hiểu thì được biết việc mua bán online người bán rất tinh xảo... nếu bị công an hay quản lý thị trường sờ gáy thì họ nói là họ bán quần áo họ ko dùng đến, họ xách tay về muốn thanh lý lại, thì làm sao ạ ?

Làm thế nào để phân biệt được và có cách xử lý nào để tạo sự công bằng, bình đẳng cho những cơ sở đăng kí kinh doanh hợp pháp không ạ (vừa mất tiền thuê cửa hàng, nhân viên... vừa lại không có khách vì giá thành đắt hơn so với các cửa hàng online...)

Hoạt động bán hàng nhằm mục đích thương mại là hoạt động diễn ra trong thời gian dài, không phải một sớm một chiều và cũng không phải chỉ bán một, hai món đồ mà là hàng loạt các sản phẩm. Do đó, nếu đúng là người bán thực hiện hoạt động kinh doanh thực sự thì những lý do trên không thể trốn tránh và che giấu được hành vi vi phạm, hành vi đó sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật. Vấn đề đặt ra là các cơ quan quản lý đã thực sự nghiêm minh chưa? Có thẳng tay trừng trị, xử lý minh bạch theo đúng quy định của pháp luật hay không mà thôi.

Để tạo sự công bằng cho những cơ sở đăng ký kinh doanh hợp pháp thì biện pháp duy nhất đó là xiết chặt quản lý đồng thời tuyên truyền để người dân hiểu biết về hoạt động kinh doanh và nghĩa vụ đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật. Mức phạt phải phù hợp và đủ để răn đe hành vi vi phạm. Thực ra, bán hàng online là một biện pháp rất hiệu quả để thúc đẩy doanh số bán hàng, được khuyến khích và rất phát triển trong nền kinh tế hiện nay. Do đó, nếu sử dụng dịch vụ bán hàng online mà có thể giúp giảm giá thành sản phẩm thì doanh nghiệp hoàn toàn có thể sử dụng, miễn là chấp hành đúng quy định của pháp luật về đăng ký doanh nghiệp và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước.

Câu hỏi 4. Dạ thưa Luật sư, bạn em muốn hỏi bạn trai của bạn ấy bị lừa mua điện thoại như vậy bây giờ anh ấy có cách nào để bảo vệ quyền lợi của mình không ạ ?

Theo như bạn trình bày thì chiếc điện thoại mà bạn trai cô ấy nhận được không phải hàng chính hãng như đã thông tin trên mạng. Chiếc điện thoại đó có thể là hàng giả. Thông thường các cửa hàng bán hàng online có đăng kèm theo địa chỉ trụ sở, tên thương nhân. Do đó, bạn có thể đến trực tiếp yêu cầu giảm giá hoặc đổi hàng đúng với chất lượng đã đăng trên mạng. Người mua cũng có quyền yêu cầu sự giúp đỡ của Hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại địa phương (nếu có) hoặc yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu do bị lừa dối (Điều 132 BLDS 2005).

Tình huống về điều kiện thành lập công ty cổ phần

Tình huống: Câu chuyện về điều kiện thành lập công ty Cổ phần

(Hai diễn viên: một nam, một nữ)

Tại hành lang của một cơ quan, Lan đang đứng hí hoái nhắn tin điện thoại thì Lý vội vã đi qua, đi qua một đoạn Lý như giật mình nhìn lại vì thấy Lan bạn mình…, Lý nhìn Lan với ánh mắt dò xét.. Lan ngẩng đầu lên và nhìn Lý…

Lan: Lý à, Cậu đi đâu vội thế.. ở đâu có cháy nhà à?

Lý: Lan đấy à! Mình đang có chút việc gia đình nên…

Lan: Tớ chứ còn ai nữa, khiếp, dạo này nhìn bảnh bao thế, dáng như dáng sếp ấy.. Xem nào, trời ơi, quần áo độc hàng hiệu. Tớ bảo tớ đang bí tiền quá, có cho mượn ít, cuối tháng trả..

Lý: Cậu lại đùa tớ rồi…, hoàn cảnh của tớ cậu còn lạ gì nữa…, tớ không hỏi vay cậu thì thôi…(Lý bỗng chột dạ) À, thì ra cậu lại trêu đểu tớ đúng không? Cậu lại nói lại đúng điệu của tớ lúc đi vay tiền nữa chứ!

Lan: Tớ nói thế mà cậu cũng nhận ra nhạc điệu của mình à?! Hỏi thật cậu nhé! Lúc nào cũng cuối tháng mà có thấy trả đâu. Cuối tháng thì cậu có tiền chắc…?!, thất nghiệp mà lúc nào cũng làm như doanh nhân đại gia ấy..

Lý: Này, đôi lúc tớ bí tiền thì hỏi vay cậu, tớ trả đàng hoàng, kể cả mấy lần trước tớ hứa cũng sẽ trả đàng hoàng mà. Sao cậu lại nhỡ mồm làm nhục tớ thế.

Lan: Lại cái văn đó…! Bài này đọc hôm trước rồi. Đọc bài khác khá hơn đi.

Lý: (ngượng ngùng) Bạn bè như cậu rõ chán!, lúc nguy nan cần sự giúp đỡ thỡ lại bắt người ta đọc bài khác, nhà cậu nhiều tiền thế, tiếc thằng bạn nối khố này sao. Ông già vừa bán 2 suất đất đống tiền mà…

Lan: Đấy, bài này chưa đọc bao giờ. Này, sao cậu biết nhanh thế.

Lý: Ở cả cái khu này, chuyện gì mà tớ không biết. Khả năng nghe ngóng của tớ thuộc dạng thượng thừa đấy. Này, ông già cậu bán đất làm gì mà gấp vậy. Định đầu tư mua đàn bò mới à?.

Lan: Mua bò thì cần quái gì phải bán đất. Nói thật với cậu, tớ với bố tớ bàn nhau định bán đất lấy tiền đầu tư vào cái đầm tôm, nhưng năm nay lũ lụt quá không khéo lại vứt tiền qua cửa chính chứ chẳng phải cửa sổ đâu... Tớ đang mệt mỏi quá, chẳng biết đầu tư vào đâu để làm ăn. Có lẽ mở cửa hàng cho vay lãi là chắc nhất.

Lý: Chết chết...sao thời buổi này mà còn có người suy nghĩ tầm thường thế nhỉ !?. Đúng là cậu chỉ biết có chăn bò thôi. Tớ bảo, có tiền sao cậu không mở một công ty cổ phần mà làm ăn, đăng ký kinh doanh đàng hoàng với nhà nước. Việc gì phải chui lủi đi cho vay lãi làm gì...

Lan: Cái gì, mở công ty cổ phần cơ à. Nghe sao oách thế. Bấy nhiêu tiền của nhà tớ thì nhằm nhò gi mà công với chẳng ty.

Mà này, từ nay cậu đừng nhắc đến cái chuyện trăn bò, cắt cỏ ngày xưa nhé, chuyện đó xưa rồi..

Lý: Cậu càng nói tớ càng thấy cậu có vấn đề. Nghe tớ nói này, cậu phải mời thêm 2 người nữa cùng góp vốn vào mà thành ập công ty. Từ 3 người góp vốn trở lên là đó có thể mở cụng ty cổ phần rồi. Còn chuyện vốn liếng cũng không qúa quan trọng vì khi đăng ký kinh doanh người ta có yêu cầu cậu mang tiền đến đó đếm xem cậu có bao nhiêu vốn đâu..

Lan: Thế hả. 3 người thôi à. Làm gì có chuyện đó hả cậu. 3 người thì ai là nhân viên, ai làm giám đốc?. Cậu lừa tớ à.

Và lại nhà tớ chỉ có hai bố con, biết rủ thêm ai được...

Lý : Đấy bây giờ tớ càng thấy rõ, cậu đúng là chẳng ra gì hay nói đúng hơn là trong mắt cậu thằng Lý này chẳng là cái gì sất...

Lan : Sao cậu lại nói như vậy ?

Lý : Tớ nói như thế không đúng sao ? Nhà cậu có hai bố con,  nếu cần thêm người sao cậu không nghĩ là có tớ... một người hiểu biết có thừa, năng lực trình độ thì cậu khỏi phải bàn...

Lan : Nói như cậu thì nói làm gì, tớ đã thế lại còn bố tớ nữa chứ, liệu bố tớ có đồng ý cho cậu chung đụng vụ này không ?

Và lại cậu suốt ngày đi vay tiền làm cóc gì có tiền mà chung vốn mở công ty..

Lý : Thế từ này đến giờ tớ nói cậu không hiểu à ? Nhắc lại nhé ! Khi đăng ký kinh doanh người ta có yêu cầu cậu mang tiền đến đó đếm xem cậu có bao nhiêu vốn đâu..

Lan : Cậu càng nói tớ càng chẳng hiểu gì hết...

Lý: Thôi, tốt nhất cậu về cất tiền vào tủ cho nó chắc ăn. Tớ biến đây.

Lan : Từ từ xem đã nào, thế hôm nay không vay tiền à… ? lạ quá nhỉ !!?

 

Câu hỏi trường quay và câu trả lời

Câu hỏi 1. Bạn cháu nói mà cháu chẳng hiểu gì cả, công ty cổ phần là công ty như thế nào thưa Luật sư?

Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành thì có 3 loại hình công ty là công ty hợp danh, công ty TNHH và công ty cổ phần.

Điều 77 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định: Công ty cổ phần là công ty mà vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Các tổ chức, cá nhân sở hữu cổ phần được gọi là các cổ đông. Công ty cổ phần có ít nhất ba cổ đông và không giới hạn số lượng tối đa. Các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. Công ty cổ phần có quyền phát hành các loại chứng khoán như cổ phiếu, trái phiếu... để huy động vốn – đây là loại quyền đặc thù của công ty cổ phần mà các loại hình công ty khác không có.

Câu hỏi 2. Như bạn cháu nói là bạn cháu có thể tham gia một chân, nhưng nói thật là cậu ấy lấy đâu ra tiền mà tham gia chứ… Xin luật sư cho cháu biết là để tham gia vào thành lập công ty cổ phần cần có điều kiện gì?

Để thành lập một doanh nghiệp nói chung và một công ty cổ phần nói riêng, pháp luật hiện hành quy định rất nhiều các nhóm điều kiện khác nhau, như điều kiện về chủ thể tham gia góp vốn thành lập, điều kiện về vốn, điều kiện về ngành nghề kinh doanh… Trong đó, điều kiện về chủ thể tham gia thành lập, quản lý doanh nghiệp được quy định tại Điều 13 Luật Doanh nghiệp 2005 như sau:

1. Tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Tổ chức, cá nhân sau đây không được quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam:

a) Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;

b) Cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức;

c) Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam;

d) Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong các doanh nghiệp 100% vốn sở hữu nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo uỷ quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác;

đ) Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự;

e) Người đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị Toà án cấm hành nghề kinh doanh;

g) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản.

Như vậy, các tổ chức, cá nhân không thuộc các trường hợp bị cấm thành lập, quản lý doanh nghiệp như quy định nêu trên thì đủ điều kiện tham gia thành lập công ty cổ phần.

Khoản 4 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2005 cũng quy định: tổ chức, cá nhân có thể góp vốn để thành lập doanh nghiệp bằng tiền mặt, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, bí quyết ký thuật… hoặc các tài sản khác ghi trong Điều lệ doanh nghiệp. Do đó, trường hợp bạn cháu không có tiền thì có thể góp vốn bằng các loại tài sản trên.

Câu hỏi 3. Nói ra kể cũng xấu hổ, bố cháu đã đầu tư cho cháu học xong cái bằng cao đẳng nghề, ngành kế toán nhưng mà cháu cũng chưa hiểu biết gì mấy… Cháu xin hỏi là nếu bố cháu, cháu và bạn cháu xin thành lập công ty cổ phần có được không ạ? Cũng xin trình bày thêm với Luật sư là bố cháu chưa qua trường lớp đào tạo nào, bạn cháu cũng chỉ mới học hết lớp 12, về trình độ pháp luật có yêu cầu gì không ạ?

Trong trường hợp cháu, bố cháu và bạn cháu không thuộc một trong các trường hợp bị cấm tham gia thành lập, quản lý doanh nghiệp theo quy định tại khoản 2 Điều 13 Luật Doanh nghiệp 2005 như vừa nêu trên đây thì cả ba người đều đủ điều kiện để góp vốn tham gia thành lập công ty cổ phần. Tuy nhiên, có một vấn đề cần lưu ý là công ty mà cháu dự định thành lập hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực ngành nghề gì? Nếu các ngành nghề mà cháu dự định đăng ký kinh doanh thuộc danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện thì phải đáp ứng các điều kiện đó. Có thể là điều kiện về vốn pháp định (tức vốn điều lệ tối thiểu) hoặc điều kiện về chứng chỉ hành nghề của người đại diện theo pháp luật, người quản lý chuyên môn hoặc nhân viên công ty…

Như vậy, đối với các ngành nghề kinh doanh thông thường, pháp luật không yêu cầu điều kiện về trình độ chuyên môn của những người tham gia góp vốn để thành lập doanh nghiệp. Chỉ cần có mức vốn phù hợp, có đầu óc kinh doanh và khả năng quản lý, điều hành thì cháu cùng với bố và bạn có thể thành lập công ty cổ phần và thực hiện hoạt động kinh doanh theo quy định của pháp luật./.

Nhà đầu tư nước ngoài có bị giới hạn tỷ lệ vốn góp vào các doanh nghiệp Việt Nam không?

Công ty tôi là loại hình Cty TNHH 2 thành viên thực hiện kinh doanh trong lĩnh vực phân phối sản phẩm nhập khẩu từ nước ngoài. Một thành viên Việt Nam trong Công ty muốn chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho 1 tổ chức hoặc cá nhân người nước ngoài thì liên hệ với cơ quan nào? Hiện nay, tỷ lệ phần vốn góp của người nước ngoài được cho phép là bao nhiêu? Luật Đầu tư có quy định việc này hay không?

Trả lời:

- Thứ nhất, theo quy định tại khoản 2 Điều 13 Nghị định 102/2010/NĐ-CP hướng dẫn Luật Doanh nghiệp:

Nhà đầu tư nước ngoài thực hiện góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc nhận chuyển nhượng phần vốn góp của thành viên hoặc của chủ sở hữu công ty theo quy định về góp vốn hoặc chuyển nhượng phần vốn góp và đăng ký thay đổi thành viên theo quy định tương ứng của Luật Doanh nghiệp và pháp luật có liên quan.

Việc đăng ký thay đổi thành viên đối với công ty đã được cấp Giấy chứng nhận đầu tư thực hiện tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý về đầu tư.

Việc đăng ký thay đổi thành viên trong trường hợp khác thực hiện tại cơ quan đăng ký kinh doanh.

Câu hỏi của bạn chỉ nói đến loại hình công ty là Công ty TNHH 2 thành viên trở lên mà không nói rõ Công ty chị được thành lập theo Luật Doanh nghiệp hay Luật Đầu tư. Do đó, theo quy định trên thì việc đăng ký thay đổi thành viên do chuyển nhượng phần phần vốn góp sẽ được thực hiện tại cơ quan quản lý về đầu tư nếu công ty bạn đã được cấp Giấy chứng nhận đầu tư hoặc thực hiện tại cơ quan đăng ký kinh doanh nơi công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

- Thứ hai, hiện nay Nghị định 108/2006/NĐ-CP hướng dẫn Luật Đầu tư quy định tại khoản 2 Điều 10 như sau: "Nhà đầu tư khi góp vốn, mua cổ phần, sáp nhập, mua lại doanh nghiệp tại Việt Nam phải: thực hiện các quy định của điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên về tỷ lệ góp vốn, hình thức đầu tư và lộ trình mở cửa thị trường; tuân thủ các quy định về điều kiện tập trung kinh tế của pháp luật về cạnh tranh và pháp luật về doanh nghiệp; đáp ứng điều kiện đầu tư trong trường hợp dự án đầu tư thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện". Cụ thể hơn, tại Điều 3 Quy chế góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định số 88/2009/QĐ-TTg ngày 18 tháng 6 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ quy định về mức vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài như sau:

1. Nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của các công ty đại chúng theo tỷ lệ quy định của pháp luật về chứng khoán và các văn bản hướng dẫn liên quan.

2. Nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực, ngành nghề thuộc pháp luật chuyên ngành theo tỷ lệ quy định của pháp luật chuyên ngành đó.

3. Tỷ lệ góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam kinh doanh thương mại dịch vụ tuân theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

4. Đối với doanh nghiệp Việt Nam hoạt động đa ngành nghề, đa lĩnh vực, bao gồm cả một số ngành nghề, lĩnh vực có quy định khác nhau về tỷ lệ tham gia của nhà đầu tư nước ngoài thì nhà đầu tư nước ngoài được góp vốn, mua cổ phần không quá mức của ngành nghề, lĩnh vực có quy định tỷ lệ tham gia của nhà đầu tư nước ngoài thấp nhất.

5. Đối với doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thực hiện chuyển đổi sở hữu, nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần theo tỷ lệ tại phương án được cấp có thẩm quyền phê duyệt, nhưng không vượt mức quy định nếu doanh nghiệp chuyển đổi hoạt động trong các lĩnh vực thuộc các trường hợp nêu tại khoản 2, 3, 4 Điều này.

6. Ngoài các trường hợp nêu trên, nhà đầu tư nước ngoài được góp vốn, mua cổ phần trong các doanh nghiệp Việt Nam với mức không hạn chế.

Công ty tôi là loại hình Công ty CP, có 4 cổ đông. Nay, 2 cổ đông muốn chuyển nhượng toàn bộ vốn góp cho một trong các cổ đông còn lại và rút ra khỏi công ty có được không? Tôi phải làm như thế nào?

Tháng 9 năm 2010, tôi có tham gia góp vốn thành lập Công ty cổ phần với một người Hàn Quốc, một người quốc tịch Việt Nam và một Công ty TNHH. Trong Công ty đó tôi sở hữu 28% vốn, người Hàn góp vốn là 20%, người quốc tịch Việt Nam góp vốn 25% và Công ty TNHH nắm 27%. Nay tôi và người Hàn muốn rút khỏi công ty và chuyển toàn bộ vốn góp của mình cho cá nhân người Việt Nam. Xin hỏi tôi có thực hiện được điều đó không? Pháp luật quy định như thế nào về vấn đề này?

Trả lời:

Về việc rút vốn khỏi công ty

Theo thông tin bạn cung cấp, Công ty của bạn thuộc loại hình công ty cổ phần, các thành viên thành lập gồm có bạn, người  Hàn, người Việt Nam và một công ty TNHH.

Tại khoản 5 Điều 84 Luật doanh nghiệp 2005 quy định: “Trong thời hạn 3 năm, kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cổ đông sáng lập có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho cổ đông sáng lập khác, nhưng chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông”.

Như vậy, việc bạn và người Hàn muốn rút vốn khỏi công ty và chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho người Việt là hoàn toàn hợp lệ.

Tuy nhiên, trong trường hợp của bạn, sau khi bạn và người Hàn rút vốn thì chỉ còn lại 2 cổ đông là người Việt và Công ty TNHH. Điều này không đảm bảo số lượng cổ đông tối thiểu quy định đối với công ty cổ phần là 3 cổ đông. Điều 77, khoản 1, điểm b Luật Doanh nghiệp 2005 quy định: “b) Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa…”

Để đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật, bạn có thể thực hiện theo một trong hai cách sau:

- Cùng với việc làm thủ tục chuyển nhượng cổ phần, công ty cần đăng ký chuyển loại hình của doanh nghiệp từ công ty cổ phần sang công ty TNHH có hai thành viên.

- Giữ nguyên loại hình Công ty cổ phần ty bằng cách mời thêm cổ đông mới bằng hình thức tăng vốn điều lệ, với sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông ( tất cả các cổ đông trong công ty).

Nếu việc bạn và người Hàn dự định chuyển nhượng vốn đã được 2 cổ đông còn lại đồng ý thì xem như không có vấn đề gì phức tạp mà chỉ cần tiến hành thủ tục theo luật định. Tuy nhiên, nếu một trong hai cổ đông còn lại, chẳng hạn là cổ đông công ty TNHH - không đồng ý thì sẽ hơi rắc rối. Thậm chí có khi sẽ trở thành một vụ tranh chấp. Do vậy, về nguyên tắc: cần phải có sự đồng thuận của tất cả các bên.

Ngân hàng X là ngân hàng giám sát của Quỹ đầu tư chứng khoán M. Vậy, trong trường hợp này, Ngân hàng X có được mua chứng khoán của Quỹ đầu tư chứng khoán M hay không?

Trả lời

Tại khoản 1 Điều 99 Luật Chứng khoán năm 2006 quy định, ngân hàng giám sát, thành viên Hội đồng quản trị, người điều hành và nhân viên của ngân hàng giám sát trực tiếp làm nhiệm vụ giám sát trực tiếp làm nhiệm vụ giám sát và bảo quản tài sản cuả quỹ đại chúng, công ty đầu tư chứng khoán không được là đối tác mua, bán trong giao dịch mua, bán tài sản của quỹ đại chúng, công ty đầu tư chứng khoán.

Đối chiếu với quy định nêu trên, thì Ngân hàng X không được mua chứng khoán của Quỹ đầu tư chứng khoán M.

Trong những trường hợp nào thì quỹ đại chúng, công ty quản lý quỹ phải báo cáo Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán trong thời hạn 24 giờ để các tổ chức này công bố thông tin theo quy định của Luật Chứng khoán năm 2006

Trả lời

Theo quy định tại khoản 3 Điều 105 Luật Chứng khoán năm 2006 và điểm 2.1 tiểu mục 2 Mục VI Thông tư số 38/2007/TT-BTC, trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi xảy ra một trong các sự kiện sau đây của quỹ đại chúng, công ty quản lý quỹ phải báo cáo Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán  để các tổ chức này công bố thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 107 Luật Chứng khoán năm 2006;

- Thông qua quyết định của Đại hội nhà đầu tư;

- Quyết định chào bán chứng chỉ quỹ đại chúng;

- Quỹ đại chúng được cấp Giấy chứng nhận đăng ký lập quỹ;

- Quyết định thay đổi vốn đầu tư của quỹ đại chúng;

- Bị thu hồi Giấy chứng nhận chào bán chứng chỉ quỹ đại chúng ra công chúng;

- Bị đình chỉ, hủy bỏ đợt chào bán chứng chỉ quỹ đại chúng;

- Sửa đổi, bổ sung Điều lệ, Bản cáo bạch quỹ đại chúng.

Sở giao dịch chứng khoán, Trung tâm giao dịch chứng khoán phải công bố các thông tin giám sát hoạt động của thị trường chứng khoán gì?

Trả lời

Theo quy địn tại điểm 3.1 tiểu mục 3 Mục VIII Thông tư số 38/2007/TT-BTC, thông tin giám sát hoạt động của thị trường chứng khoán bao gồm:

- Thông tin về tạm ngừng giao dịch hoặc cho phép sàn giao dịch trở lại đối với chứng khoán niêm yết;

- Thông tin về chứng khoán bị kiểm soát hoặc không còn bị kiểm soát;

- Thông tin về giao dịch làm thay đổi từ một phần trăm (1%) trở lên (tăng, giảm) tỷ lệ sở hữu số cổ phiếu cùng loại đang lưu hành của các cổ đông lớn; Thông tin về giao dịch của tổ chức, cá nhân hoặc người có liên quan có ý định nắm giữ tới hai mươi lăm phần trăm (25%) trở lên vốn cổ phần của một tổ chức niêm yết; Thông tin về giao dịch chào mua công khai của tổ chức, cá nhân hoặc người có liên quan;

- Thông tin về giao dịch cổ phiếu của thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó giám đốc), Kế toán trưởng và những người có liên quan;

- Thông tin về giao dịch thâu tóm tổ chức niêm yết;

- Thông tin về việc vi phạm quy định công bố thông tin của tổ chức niêm yết, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán;

- Thông tin về xử lý vi phạm các quy định của pháp luật về hoạt động thị trường;

- Các hướng dẫn, thông báo của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Sở giao dịch chứng khoán, Trung tâm giao dịch chứng khoán về quản lý, giám sát thị trường.

Hỗ trợ tư vấn

Điện thoại:
Fax:
 
(+84-24)3.557.9668
 
(+84-24)3.557.9598
Email tư vấn: info@luatsutuvan.com.vn
icon_email

Giải đáp pháp luật

Joomla Templates and Joomla Extensions by JoomlaVision.Com

Tổ chức liên kết

cong-chung
daugia
KK22

Liên kết website

bg_trai3