en vi

Thứ hai, 11/12/2017
Công ty Luật TNHH  Đào và Đồng nghiệp | Địa chỉ: Số 369, Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội | Điện thoại : (+84-24)3.557.9568*  Fax: (+84-24)3.557.9598 * Hotline: 0945.490.123
Điều kiện miễn thuế TNCN với chuyên gia nước ngoài

Bà Lê Thạch Quyên làm việc tại Công ty TNHH CHODAI & KISO-JIBAN Việt Nam, có trụ sở tại TP. Hà Nội. Vừa qua chuyên gia thiết kế của công ty bà thực hiện tư vấn thiết kế Dịch vụ đầu tư sửa chữa và khôi phục Cầu Bính, TP. Hải phòng (Dự án sử dụng nguồn vốn ODA của Nhật Bản).
Theo hợp đồng ký với Chủ đầu tư (hợp đồng trọn gói) và tính chất công việc, chuyên gia thiết kế có thể thực hiện phần lớn công việc tại Nhật Bản không cần trực tiếp có mặt tại Việt Nam.

Bà Quyên hỏi, trong trường hợp này các chuyên gia có được miễn thuế thu nhập cá nhân cho phần thu nhập từ hợp đồng này không?

Về vấn đề này, Cục Thuế TP. Hà Nội có ý kiến như sau:

Căn cứ Điều 2, Chương I Quy chế chuyên gia nước ngoài thực hiện các chương trình, dự án ODA ban hành kèm theo Quyết định số 119/2009/QĐ-TTg ngày 1/10/2009 của Thủ tướng Chính phủ quy định: "Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày 20 tháng 11 năm 2009 và thay thế Quyết định số 211/1998/QĐ-TTg ngày 31 tháng 10 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế chuyên gia nước ngoài thực hiện các chương trình, dự án ODA ở Việt Nam".

Tại khoản 5, Điều 3 quy định: “Chuyên gia nước ngoài” là người không có quốc tịch Việt Nam vào Việt Nam để cung cấp dịch vụ tư vấn về chuyên môn và kỹ thuật hoặc thực hiện các nhiệm vụ khác phục vụ cho công tác nghiên cứu, xây dựng, thẩm định, theo dõi đánh giá, quản lý và thực hiện chương trình, dự án ODA theo quy định hay thỏa thuận trong các Điều ước quốc tế về ODA đã ký kết giữa cơ quan có thẩm quyền của Bên Việt Nam và Bên nước ngoài. Họ vào Việt Nam theo các hình thức sau:

- Bên nước ngoài tuyển chọn và ký hợp đồng với chuyên gia hoặc nhà thầu (công ty) mà chuyên gia thuộc danh sách tư vấn trong tài liệu đấu thầu của nhà thầu (công ty) trên cơ sở kết quả đấu thầu được cấp có thẩm quyền của Bên nước ngoài phê duyệt và phía Việt Nam chấp nhận;

- Bên Việt Nam tuyển chọn và ký hợp đồng với chuyên gia hoặc nhà thầu (công ty) mà chuyên gia thuộc danh sách tư vấn trong tài liệu đấu thầu của nhà thầu (công ty) trên cơ sở kết quả đấu thầu được cấp có thẩm quyền của Bên Việt Nam phê duyệt và phía nước ngoài chấp thuận.

Căn cứ Điều 2, Thông tư liên tịch số 12/2010/TTLT-BKHĐT-BTC ngày 28/5/2010 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện Quy chế chuyên gia nước ngoài thực hiện các chương trình, dự án ODA ban hành kèm theo Quyết định số 119/2009/QĐ-TTg ngày 1/10/2009 của Thủ tướng Chính phủ về đối tượng áp dụng như sau:

Thông tư này áp dụng đối với các chuyên gia nước ngoài được quy định tại khoản 5, Điều 3 của Quy chế chuyên gia nước ngoài thực hiện các chương trình, dự án ODA ban hành kèm theo Quyết định số 119/2009/QĐ-TTg ngày 1/10/2009 của Thủ tướng Chính phủ và chỉ áp dụng đối với các chuyên gia mà hợp đồng của họ có hiệu lực từ ngày 20/11/2009.

Về thủ tục, hồ sơ miễn thuế và thời hạn giải quyết

Tại Điều 4 Thông tư liên tịch số 12/2010/TTLT-BKHĐT-BTC quy định về thủ tục, hồ sơ miễn thuế thu nhập cá nhân và thời hạn giải quyết của cơ quan thuế:

Tuỳ từng trường hợp Chuyên gia ký hợp đồng với Chủ dự án hay với nhà thầu (công ty) mà Chủ dự án hoặc nhà thầu (công ty) gửi hồ sơ đề nghị miễn thuế thu nhập cá nhân cho Chuyên gia đến cơ quan thuế địa phương nơi đặt trụ sở của mình. Hồ sơ bao gồm:

- Công văn đề nghị của Chủ dự án hoặc của nhà thầu (công ty) đề nghị miễn thuế thu nhập cá nhân đối với Chuyên gia.

- Xác nhận của Cơ quan chủ quản về việc Chuyên gia đáp ứng đủ điều kiện về ưu đãi và miễn trừ theo Mẫu số 1 kèm theo Thông tư này.

- Các tài liệu liên quan đến thu nhập được miễn thuế của Chuyên gia (hợp đồng, chứng từ chi trả thu nhập,...).

Trong vòng 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ theo quy định tại điểm 1 nêu trên, Cơ quan thuế cấp Xác nhận miễn thuế thu nhập cá nhân cho Chuyên gia theo Mẫu số 2 kèm theo Thông tư này.

Căn cứ các quy định nêu trên, trường hợp chuyên gia thiết kế của công ty bà Lê Thạch Quyên đảm bảo các điều kiện là chuyên gia nước ngoài theo quy định tại khoản 5, Điều 3 Chương I Quy chế chuyên gia nước ngoài ban hành kèm theo Quyết định số 119/2009/QĐ-TTg ngày 1/10/2009 của Thủ tướng Chính phủ nêu trên, có hợp đồng hiệu lực từ sau ngày 20/11/2009 thì thuộc đối tượng xem xét miễn thuế thu nhập cá nhân.

Nguồn: chinhphu.vn

Thời hạn làm thủ tục hưởng trợ cấp thất nghiệp


Hỏi: Ông Đỗ Văn Ngãi (tỉnh Bắc Ninh) đóng bảo hiểm thất nghiệp được 5 năm. Từ tháng 3/2015, ông nghỉ việc để đi xuất khẩu lao động trong thời gian 3 năm. Vậy khi về nước ông Ngãi mới làm thủ tục lĩnh trợ cấp thất nghiệp có được không?

Trả lời: Về vấn đề này, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội trả lời ông Ngãi như sau:Theo quy định tại Điều 49 của Luật Việc làm thì người lao động quy định tại khoản 1, Điều 43 của Luật Việc làm đang đóng bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ điều kiện sau đây:

- Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc trừ các trường hợp, người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật; hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng.

- Đã đóng BHTN từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm a, điểm b, khoản 1, Điều 43 Luật Việc làm; đã đóng BHTN từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 43 Luật Việc làm.

- Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định.

- Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng BHTN, trừ các trường hợp, thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an; Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên; Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc; Bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù; Ra nước ngoài định cư, đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng; Chết.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 46 Luật Việc làm và văn bản hướng dẫn thì trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, người lao động chưa có việc làm mà có nhu cầu hưởng trợ cấp thất nghiệp phải trực tiếp nộp 1 bộ hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp theo đúng quy định cho trung tâm dịch vụ việc làm tại địa phương nơi người lao động muốn nhận trợ cấp thất nghiệp.

Có thể ủy quyền nộp hồ sơ hưởng trợ cấp

Người lao động được ủy quyền cho người khác nộp hồ sơ hoặc gửi hồ sơ theo đường bưu điện nếu thuộc một trong các trường hợp sau: Ốm đau, thai sản có xác nhận của cơ sở y tế có thẩm quyền; Bị tai nạn có xác nhận của cảnh sát giao thông hoặc cơ sở y tế có thẩm quyền; Hỏa hoạn, lũ lụt, động đất, sóng thần, địch họa, dịch bệnh có xác nhận của Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn.

Khoản 1, Điều 45 Luật Việc làm quy định, thời gian đóng BHTN để xét hưởng BHTN là tổng các khoảng thời gian đã đóng BHTN liên tục hoặc không liên tục được cộng dồn từ khi bắt đầu đóng BHTN cho đến khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật mà chưa được hưởng trợ cấp thất nghiệp.

Như vậy, ông Đỗ Văn Ngãi được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi đáp ứng đủ các điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp nêu trên.

Thời gian đóng BHTN mà chưa được tính hưởng trợ cấp thất nghiệp của ông Ngãi sẽ được bảo lưu, cộng dồn theo quy định nêu trên.

Nguồn: chinhphu.vn

Tình huống về hành vi đánh bạc trá hình

Tình huống 5: Câu chuyện về đánh bạc trá hình

Hai diễn viên 1 nam, 1 nữ

Hai vợ chồng đang ở trong phòng , vợ lục tủ tìm đồ thì phát hiện ra mất tiền trong két .

Vợ : Ơ anh ơi, sao lại không thấy tiền ở đây nhỉ, Tiền trong két em để ở đây hôm nọ sao bây giờ không thấy đâu nữa ? Anh có cầm tiền đi đâu làm gì không anh ? 

Chồng : ( Giọng lảng lảng đi ) : Tiền em để đâu thì làm sao mà anh biết được. Mà sao cứ động nói đến tiền là em lại hỏi anh thế nhỉ !? Em xem lại đi, chắc lại mua bán cái gì mà không nhớ chứ gì.

Vợ : Không, chắc chắn là em không mua bán gì mà. Tiền em đã để riêng ra để dành mua xe cho con, em nhớ là em để đây mà, chết mất thôi. Đâu rồi không biết nữa....

Chồng: ( Giọng lạ lạ ) : À em ơi, có phải tiền đầu tuần trước em để trong tủ không... Anh quên mất, hôm nọ thằng Hưng phòng anh nó cần tiền lo việc gấp nên anh lấy cho nó vay rồi. Anh quên mất chưa bảo em... Để thư thư vài hôm nữa rồi anh hỏi nó xem khi nào nó trả nhé rồi anh bảo em... 

Vợ : Có thật không đấy, hay là anh lại mang đi đâu, mà sao anh không bảo em...Ấy chết hôm qua em vừa gặp Lan vợ anh Hưng có thấy nó nói gì đâu nhỉ ? Mà lần sau thế anh phải bảo em một câu chứ, làm hỏng hết kế hoạch của em, mà anh Hưng cần tiền làm gì thế anh nhỉ ? Chắc là hai ông lại thậm thụt làm điều gì mờ ám phải không ?

Chồng : Ôi dào, ai mà biết được nó, chắc là có chuyện gì cần nên mới vay gấp thế thôi... Thôi em đừng lo nhé...

Vợ : Em có lo cũng chỉ lo mỗi việc anh ngựa quen đường cũ, anh lao vào chơi bài bạc thôi, cứ cái kiểu chơi bời của anh như năm ngoái thì tiền bao nhiêu cho đủ được, cũng may có vụ vừa rồi bị công an tóm cổ lên phường nên anh mới chừa chứ không thì chết...

Thôi anh đã cho anh Hưng vay thì em yên tâm rồi...

Chồng (ậm ừ, thái độ lo lắng nhưng vẫn là ra vẻ...) : Ừ thì anh đã bảo là em không phải lo mà, nó vay rồi nó sẽ trả, nó không trả được thì anh trả em, được chưa nào..

Vợ : Quay lại ngồi xuống uống nước thì nhìn thấy một cái vali phỉnh poker, mở ra thì hét ầm lên.

Cái gì đây thế này,  poker (xèng) à, anh lại nói dối em nữa đúng không, tiền anh lại đốt hết vào cái đống này chứ gì, em đã nói bao nhiêu lần rồi, cuối cùng tiền anh vẫn mang đi đánh bạc thế này hở giời, ối giời ơi, anh có biết chỗ đấy bao nhiêu tiền không, hết lần này đến lần khác anh vẫn chưa chừa à, anh làm thế này thì thà giết mẹ con em đi còn hơn...

Chồng : Anh xin em, anh chỉ chơi vui thôi mà, em đừng bù lu bù loa lên thế, con cái nghe thấy thì không hay đâu...

Vợ : Anh còn lo đến con cái cơ à, anh còn chưa biết sợ cơ à, tưởng lần trước bị bắt vì chơi cờ bạc anh đã biết sợ rồi, giờ anh mà còn đi đánh bạc nữa thì chính em sẽ đi báo cho anh không làm khổ vợ con nữa.

Chồng : Em vừa vừa phai phải thôi nhé, tiền là của cả 2, anh cũng có quyền được sử dụng chứ.

Vợ : À, thì ra anh nói là của chung nên anh muốn làm gì thì làm phải không ?

Chồng : Thế không đúng à ? Mà anh cũng nói để em biết nhé, em đừng mơ báo công an bắt anh nhé, anh có ngu đâu mà để công an sờ gáy anh lần nữa chứ..

Vợ : Anh lại còn thách đố tôi nữa à...

Chồng : Thì đã sao nào... Nói cho em biết nhé, lần này khác rồi, kể cả em có đi báo, cũng không ai làm được gì. Anh chỉ chơi poker bằng xèng chứ đâu có chơi bài bằng tiền mặt thì làm sao mà công an làm gì được. Công an chẳng có cớ gì mà bắt anh được cả.

Vợ : Trợn tròn mắt ! Thế là thế nào hả ông giời?!

Chị vợ vào trường quay

Câu hỏi 1. Đấy luật sư xem, rõ ràng là anh ấy mang tiền đi đánh bạc, nhưng tiền đã được qui đổi thành chip/ phỉnh, em cũng không biết phải hỏi ai nữa. Luật sư cho em hỏi, chồng em nói chơi cờ bạc mà không có tiền mặt tại nơi chơi như thế thì công an không thể bắt anh ấy thì là đúng hay sai ạ ?

Trả lời :

Theo Quyết định 32/2003/QĐ-TTg của Thủ tường Chính Phủ ngày 27/2/2003 về hoạt động kinh doanh trò chơi có thưởng dành cho người nước ngoài thì:

Kinh doanh trò chơi điện tử có thưởng là việc doanh nghiệp cung cấp dịch vụ để tiến hành trò chơi giữa người với máy điện tử sử dụng làm trò chơi có cài sẵn chương trình trả thưởng tự động (sau đây viết tắt là trò chơi có thưởng)

Đồng tiền trong trò chơi bao gồm tiền kim loại, tiền giấy và các loại đồng tiền quy ước (gọi chung là đồng xèng) có mệnh giá nhất định so với đồng tiền Việt Nam.

Cũng theo Quyết định này thì đối tượng được tham gia trò chơi điện tử có thưởng tại các điểm vui chơi chỉ bao gồm người nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài, các đối tượng khác đều bị nghiêm cấm tham gia dưới mọi hình thức.

Từ quy định trên có thể thấy chơi xèng là một trò chơi điện tử có thưởng và chỉ áp dụng đối với người nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài các đối tượng khác đều bị nghiêm cấm tham gia dưới mọi hình thức.

Điều 248 Bộ luật hình sự quy định về tôi đánh bạc như sau:

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 249 của Bộ luật này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc có giá trị từ năm mươi triệu đồng trở lên;

c) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng.”

Theo hướng dẫn tại Nghị Quyết số 01/2010/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 22/10/2010 hướng dẫn áp dụng quy định tại Điều 248, 249 Bộ luật hình sự thì: “Đánh bạc trái phép” là hành vi đánh bạc được thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào với mục đích được thua bằng tiền hay hiện vật mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép nhưng thực hiện không đúng với quy định trong giấy phép được cấp.

Như vậy, trò chơi xèng là một trò chơi có phân định thắng thua bằng tiền do đó, nó là một hình thức đánh bạc và pháp luật hiện nay vẫn nghiêm cấm công dân Việt Nam không phải là người Việt Nam định cư ở nước ngoài được tham gia chơi trò này. Chồng chị thuộc đối tượng bị nghiêm cấm, do đó nếu chồng chị tham gia chơi xèng thì có thể sẽ bị xử lý hình sự về tội này nếu số tiền thu được có giá trị từ hai triệu đồng trở lên hoặc dưới hai triệu đồng nhưng đã bị kết án về tội này hoặc tội tổ chức đánh bạc, gá bạc quy định tại Điều 249 của BLHS, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm.

Câu hỏi 2. Nếu anh ấy mà bị bắt thì người có máy (chủ chứa) sẽ bị xử lý như thế nào ạ ?

Theo quy định tại Điều 249 BLHS và hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 22/10/2010 hướng dẫn áp dụng quy định tại Điều 248, 249 Bộ luật hình sự thì: “Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép với quy mô lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này và Điều 248 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến ba trăm triệu đồng hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm.”

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc có giá trị rất lớn hoặc đặc biệt lớn;

c) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi  triệu đồng.

Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc thuộc một trong các trường hợp sau đây là “với quy mô lớn”:

a) Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trong cùng một lúc cho từ mười người đánh bạc trở lên hoặc cho từ hai chiếu bạc trở lên mà số tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng.

b) Có tổ chức nơi cầm cố tài sản cho người tham gia đánh bạc; có lắp đặt trang thiết bị phục vụ cho việc đánh bạc; khi đánh bạc có phân công người canh gác, người phục vụ, có sắp đặt lối thoát khi bị vây bắt, sử dụng phương tiện như ô tô, xe máy, xe đạp, điện thoại... để trợ giúp cho việc đánh bạc;

c) Tổng số tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trong cùng một lần có giá trị từ 20.000.000 đồng trở lên.

2. Người tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc thuộc trường hợp chưa đến mức được hướng dẫn tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều này, nếu tổng số tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng thì tuy họ không phải chịu trách nhiệm hình sự về “tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc” nhưng họ phải chịu trách nhiệm hình sự về đồng phạm tội đánh bạc.

Như vậy, tùy từng trường hợp mà chủ chứa có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc theo quy định tại Điều 248 BLHS hoặc tội tổ chức đánh bạc, gá bạc theo quy định tại Điều 249 BLHS.

Câu hỏi 3: Theo luật sư thì phải làm thế nào để không con cái kiểu biến tướng để bóc lột nhau, mà thực tế ở đây chỉ có người chơi chịu thiệt này ạ?

Thực tế hiện nay công tác quản lý của công an và chính quyền địa phương với hoạt động đánh bạc trá hình này còn rất lỏng lẻo, các máy xèng mọc nên rất nhiều và có quy mô khác nhau nhưng chưa được nhắc nhở, xử lý kịp thời. Số vụ khởi tố liên quan đến việc đánh bạc thông qua máy xèng còn rất hạn chế; các cơ quan chức năng chưa có phương thức tuyên truyền phổ biến cho người dân thấy được đây là một hoạt động mà pháp luật hiện nay đang cấm khiến cho nhiều người chủ máy xèng cũng như người chơi chưa nhận thức đúng đắn về trò chơi này.

Cơ chế pháp lý về hoạt động kinh doanh trò chơi có thưởng hiện nay đang được điều chỉnh bới một số văn bản như Quyết định 32/2003/QĐ-TTg của Thủ tường Chính Phủ ngày 27/2/2003 về hoạt động kinh doanh trò chơi có thưởng; Quyết định số 91/2005/QĐ-BTC ngày 8/12/2005 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành Quy chế quản lý tài chính đối với hoạt động kinh doanh trò chơi có thưởng; Quyết định 84/2007/QĐ-BTC ngày 17/10/2007 sửa đổi Quyết định số 91/2005/QĐ-BTC.

Tuy nhiên những văn bản trên hiện nay còn nhiều điểm chưa phù hợp và hiện tại Chính Phủ đang xây dựng dự thảo Nghị định về kinh doanh trò chơi có thưởng để điều chỉnh hoạt động này.

Thiết nghĩ song song với việc ban hành các văn bản pháp luật để điều chỉnh hoạt động kinh doanh trò chơi có thưởng thì các cơ quan Nhà nước cần thực hiện một cách nghiêm túc và chặt chẽ các quy định hiện hành. Việc quản lý phải đảm bảo ngay từ khâu nhập khẩu các loại máy điện tử này cho đến việc kinh doanh dịch vụ này. Cần phải xử lý nghiêm minh, triệt để các trường hợp vi phạm. Ngoài ra cần có biện pháp tuyên truyền để người dân hiểu biết về hoạt động này.

Tình huống về bồi hoàn học phí đào tạo nghề

Tình huống: Câu chuyện về Bồi hoàn học phí đào tạo nghề

Hai diễn viên nam: một già, một trẻ

Tại một gia đình, người con đang ngồi làm việc nhà thì ông bố trên tay đang cầm chai rượu khật khướng ngang qua…

Bố: Tuấn, sao mày dạo này nhìn thấy bố mày cứ như nhìn vật thể lạ thế hả… Bố hỏi thật mày… bố có còn là bó của mày nữa hay không?

Tuấn: Bố nói gì mà nghe lạ thế..?!. Bố lại say rồi. Mới sáng ra đã say như thế này thì còn làm ăn được cái gì nữa... Chán bố lắm!

Bố: Mày nói cái gì…. Mày chán bố mày hả… Ối làng nước ơi, tôi nuôi nó lớn từng này tuổi rồi mà bây giờ nó bảo chán bố. Mà này, sao giờ này còn ở đây, không đi học à. Còn ở đó làm gì.

Tuấn: Con bỏ rồi.

Bố: Cái gì, mày bảo cái gì, bỏ học à... Tao biết ngay mà… cái ngữ mày thì học mới chả hành cái gì. Tướng mày chỉ cho đi vác đất thôi con ạ…

Người ta hy sinh đời bố củng cố đời con… À quên, tao hy sinh đời bố mà cũng không thể củng cố được đời mày... Bây giờ mày giỏi thật..

Tuấn: Thôi bố đừng nói thế, con đến nông nỗi này cũng chỉ vì bố thôi, bố thử xem lại đi, cả chục năm nay, từ khi bố bỏ cơ quan đến giờ bố có làm gì đâu, suốt ngày bố chỉ  đầu tư tiền của vào cái chai này thôi (chỉ tay vào cái chai trên tay bố) , bố có để ý gì đến mẹ con con đâu…

Trước đây con cũng định đi học lấy cái nghề để sau này kiếm kế sinh nhai, nhưng rồi hoàn cảnh gia đình nhà mình thì khó khăn, mẹ một tay nuôi ba cái miệng ăn, chưa kể thi thoảng lại có người đến tìm gặp mẹ để yêu cầu trả nợ cho bố…

Bố: À, mày càng ngày càng giỏi nhỉ, hôm nay mày còn định lên nước dạy cả bố mày cơ đấy..

Thế bao nhiêu tiền của tao đâu, trả lại cho tao…!

Tuấn: Tiền nào của bố ạ? Mà bố đã bao giờ cho tiền con đâu, sao hôm nay bố lại hỏi con thế?!

Bố: Ô hay, cái thằng này nó cứ bật mình như tôm ấy nhỉ!? Mày không đi học nữa thì mang tiền đây trả tao?

Tuấn: Bố nói thế nghĩa là sao ạ?

Bố: Ô hay, tao dững tưởng mày giỏi hơn tao cơ mà… hay là mày lại vờ vịt đấy hả?!..Tiền học phí hôm trước mẹ mày đưa cho mày đâu?

Tuấn: Tiền mẹ đưa hôm đó con chả nộp cho người ta rồi còn gì.

Bố: Ơ thằng này vớ vẩn nhỉ... Nộp nhưng bây giờ bỏ học thì người ta phải trả lại chứ. Làm sao mà người ta cướp không của tao được. Khôn hồn thì mày bỏ tiền ra trả tao, không thì nhừ đòn bây giờ…

Tuấn: Bố buồn cười thật, nhà trường mà bố cứ làm như một lũ trẻ con chơi bi với nhau chán thì cho thích thì đòi ấy.

Bố: Mày nói thế mà nghe được à hả con. Thẳng Ất con bà Sửu ở làng bên hôm nọ cũng cùng học trường nghề với mày, nó bỏ học đi bộ đội, người ta cũng trả lại tiền bình thường chứ có sao đâu, mà mày quen cái thói ăn gian nói dối từ khi nào đấy. Tao phải cho mày một trận mới được.

Tuấn: Bố cứ làm như con nên năm nên ba ấy, động tý là dùng vũ lực… Tiện đây con cũng nói để bố biết nhé, từ nay bố đừng có mà hắt hủi, đánh đập mẹ như đánh quân thù thế nữa nhé, bố cứ làm như vạy là không được đâu..

Bố: À, cái thằng này, mày cũng giỏi lý luận nhỉ, hôm nay mày định lên nước dạy bố mày đấy phải không?!

Tao nhớ ra rồi, hôm trước thằng Lý nhà lão Luân, nó phải nghỉ học nghề vì trung tâm bị giải thể, tại sao trung tâm lại trả tiền nó mà tiền học phí của mày thì mày lại bảo không lấy được?

Tuấn: Bố hỏi con con biết hỏi ai?

Bố: À, cái thằng này mày lại định vặn vẹo cả bố mày nữa cơ đấy..

Hỏi ai là việc của mày, mày không trả lời rõ ràng cho tao thì tao cho mày chết đòn đấy hiểu chửa!?

Tuấn: Bố…(mắt tròn sợ hãi)

Tuấn vào trường quay

Câu hỏi 1. Bố cháu yêu cầu cháu lấy lại tiền học phí đã đóng cho Nhà trường như vậy là đúng hay sai?

Trả lời:

Trường hợp hoàn lại tiền học phí đã đóng cho nhà trường của cháu cần phải xem xét nhiều khía cạnh: trường cháu học thuộc cấp giáo dục nào, nội quy – quy chế của nhà trường có quy định việc hoàn lại học phí cho người học khi ngừng học, mức hoàn lại là bao nhiêu?

Khoản 1 điều 13 Nghị định 49/2010/NĐ-CP ngày 14/05/2010 của Chính phủ quy định về thu học phí có nội dung:

Học phí được thu định kỳ hàng tháng; nếu học sinh, sinh viên tự nguyện, nhà trường có thể thu một lần cho cả học kỳ hoặc cả năm học.

Đối với cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục thường xuyên, dạy nghề thường xuyên và các khóa đào tạo ngắn hạn, học phí được thu theo số tháng thực học.

Đối với cơ sở giáo dục phổ thông, học phí được thu 9 tháng/năm.

Đối với cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học, học phí được thu 10 tháng/năm. Trong trường hợp tổ chức giảng dạy, học tập theo học chế tín chỉ, cơ sở giáo dục có thể quy đổi để thu học phí theo tín chỉ song tổng số học phí thu theo tín chỉ của cả khóa học không được vượt quá mức học phí quy định cho khóa học nếu thu theo năm học.

Trường học của cháu nếu thuộc loại cơ sở giáo dục thường xuyên, dạy nghề thường xuyên và các khóa đào tạo ngắn hạn thì học phí sẽ được thu theo đúng số tháng thực học. Nếu cháu đã nộp học phí quá số tháng thực học kể từ thời điểm có đơn xin ngừng/ thôi học thì nhà trường sẽ phải có trách nhiệm hoàn trả lại phần học phí cháu đã đóng thừa.

Đối với các cơ sở giáo dục khác quy định rõ kỳ thu học phí thì tùy từng nội quy – quy chế của nhà trường sẽ xem xét hoàn trả lại phần học phí cháu đã nộp trước kỳ phải đóng theo quy định.

Câu hỏi 2. Tại sao cháu thì không được lấy lại mà bạn Ất được lấy lại, bạn Lý được trả lại tiền học phí?!

Trả lời:

Trường hợp của bạn Ất – học cùng trường với cháu, cháu phải tìm hiểu rõ bạn ấy đóng học phí như thế nào, bạn ấy thôi học tại thời điểm nào, như tôi đã phân tích ở trên, nếu có căn cứ được hoàn lại học phí thì các học viên vẫn được nhà trường hoàn lại khoản học phí đã nộp cho thời gian chưa học.

Trường hợp của bạn Lý, do trung tâm dậy nghề bị giải thể nên lỗi hoàn toàn do phía nhà trường khi không thể cung cấp dịch vụ giảng dạy nữa, trung tâm phải hoàn lại tiền học phí cho các học viên là hoàn toàn phù hợp.

Câu hỏi 3. Bố cháu hay uống rượu và chửi mắng vợ con, thậm chí còn dùng cả vũ lực với mẹ cháu, cháu xin Luật sư cho cháu biết bố cháu làm như vậy có vi phạm pháp luật không? Cháu có được làm gì để bảo vệ mẹ cháu không ạ?

Trả lời:

Quyền được bảo vệ thân thể, sức khỏe, tính mạng của công dân là quyền đương nhiên được pháp luật tôn trọng, bảo vệ. Bố cháu dùng vũ lực với mẹ cháu là hoàn toàn vi phạm pháp luật, tuy theo mức độ của hành vi, bố cháu có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

Điều 18 Luật Phòng chống bạo lực gia đình có quy định:

1. Người phát hiện bạo lực gia đình phải kịp thời báo tin cho cơ quan công an nơi gần nhất hoặc Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc người đứng đầu cộng đồng dân cư nơi xảy ra bạo lực.

2. Cơ quan công an, Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc người đứng đầu cộng đồng dân cư khi phát hiện hoặc nhận được tin báo về bạo lực gia đình có trách nhiệm kịp thời xử lý hoặc kiến nghị, yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền xử lý; giữ bí mật về nhân thân và trong trường hợp cần thiết áp dụng biện pháp bảo vệ người phát hiện, báo tin về bạo lực gia đình.

Cháu có thể thực hiện theo quy định trên để bảo vệ mẹ cháu khi bị bố cháu dùng vũ lực.

Câu hỏi 4. Xin Luật sư cho cháu cũng như gia đình cháu lời khuyên để mọi chuyện ổn thoả?

Trả lời:

Với vai trò là người con trong gia đình, cháu có thể làm trung gian hòa giải mâu thuẫn giữa bố mẹ. Trường hợp tự mình làm không có hiệu quả, cháu có thể nhờ tới các cụ cao tuổi trong dòng họ khuyên bảo bố cháu. Đồng thời cháu có thể nhờ UBND cấp xã/ phường nơi gia đình cháu ở, Hội phụ nữ, Tổ trưởng tổ dân phố/ Trưởng thôn... có ý kiến khuyên bảo, hòa giải để bố cháu hiểu và có cư xử đúng mực.

Trường hợp mọi biện pháp hòa giải đều không có hiệu quả, bố cháu vẫn tiếp tục có bạo lực với mẹ cháu thì cháu đành phải nhờ đến cơ quan có thẩm quyền có biện pháp khác để bảo vệ mẹ cháu như ở trên tôi đã phân tích.

��8in�i �J �i của Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

 

Xin tư vấn hộ tôi về cách tính thuế thu nhập đối với trúng xổ số kiến thiết giải đặc biệt, chân thành cảm ơn!

Trả lời:

Tại Điều 5 Thông tư số 42/2009/TT-BTC ngày 9/3/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn khấu trừ thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân làm đại lý xổ số và khấu trừ thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân có thu nhập từ trúng thưởng xổ số quy định:

“Cá nhân trúng thưởng xổ số các giải thưởng có giá trị trên 10 triệu đồng trên 01 vé xổ số thuộc đối tượng phải nộp thuế thu nhập cá nhân.

- Thu nhập tính thuế từ trúng thưởng xổ số là phần giá trị giải thưởng của từng vé xổ số vượt trên 10 triệu đồng mà cá nhân trúng thưởng nhận được.

- Công ty xổ số kiến thiết có trách nhiệm khấu trừ thuế thu nhập cá nhân đối với những trường hợp cá nhân trúng thưởng vé xổ số có giá trị trên 10 triệu đồng”.

Căn cứ quy định nêu trên thì thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ trúng thưởng xổ số tính theo từng vé xổ số trúng thưởng.

Xin hỏi chủ doanh nghiệp tư nhân mất tích, không còn tài sản thì có được xóa nợ thuế không?

Trả lời:

Căn cứ khoản 1 Điều 40 Thông tư số 28/2011/TT-BTC ngày 28 tháng 02 năm 2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế, hướng dẫn thi hành Nghị định số 85/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 quy định các trường hợp được xoá nợ tiền thuế, tiền phạt bao gồm:

a) Doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản (không bao gồm doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh bị tuyên bố phá sản) đã thực hiện các khoản thanh toán theo quy định của pháp luật phá sản mà không còn tài sản để nộp tiền thuế, tiền phạt;

b) Cá nhân được pháp luật coi là đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự mà không có tài sản để nộp tiền thuế, tiền phạt còn nợ.

Như vậy, trường hợp chủ doanh nghiệp tư nhân mất tích và không còn tài sản thì sẽ thuộc trường hợp được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 40 Thông tư 28/2011/TT-BTC đã nêu ở trên. Tuy nhiên, để có thể được xóa nợ thuế thì cần đáp ứng các điều kiện sau đây:

- Quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án;

- Văn bản xác nhận của UBND cấp xã, phường, thị trấn nơi người bị tuyên bố mất tích cư trú về việc người mất tích không có tài sản.

Cơ quan thuế có trách nhiệm yêu cầu thân nhân của người mất tích cung cấp các giấy tờ trên.

Tôi là giám đốc của một công ty kiểm toán đồng thời cũng là giám đốc thuê của một Công ty TNHH (không kinh doanh hoạt động kiểm toán). Vậy tôi xin hỏi công ty kiểm toán của tôi có được kiểm toán cho doanh nghiệp mà tôi làm giám đốc thuê không?

Trả lời:

Theo quy định của Luật kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12 ban hành ngày 29/3/2011 có hiệu kể từ ngày 1/1/2012 thì các hành vi bị nghiêm cấm đối với kiểm toán viên, kiểm toán viên hành nghề bao gồm:

Điều 13. Các hành vi bị nghiêm cấm

1. Nghiêm cấm thành viên tham gia cuộc kiểm toán và doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam thực hiện các hành vi sau đây:

a) Mua, nhận biếu tặng, nắm giữ cổ phiếu hoặc phần vốn góp của đơn vị được kiểm toán không phân biệt số lượng;

b) Mua, bán trái phiếu hoặc tài sản khác của đơn vị được kiểm toán có ảnh hưởng đến tính độc lập theo quy định của chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán;

c) Nhận hoặc đòi hỏi bất kỳ một khoản tiền, lợi ích nào khác từ đơn vị được kiểm toán ngoài khoản phí dịch vụ và chi phí đã thỏa thuận trong hợp đồng đã giao kết;

d) Sách nhiễu, lừa dối khách hàng, đơn vị được kiểm toán;

đ) Tiết lộ thông tin về hồ sơ kiểm toán, khách hàng, đơn vị được kiểm toán, trừ trường hợp khách hàng, đơn vị được kiểm toán chấp thuận hoặc theo quy định của pháp luật;

e) Thông tin, giới thiệu sai sự thật về trình độ, kinh nghiệm và khả năng cung cấp dịch vụ của kiểm toán viên hành nghề và doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam;

g) Tranh giành khách hàng dưới các hình thức ngăn cản, lôi kéo, mua chuộc, thông đồng với khách hàng và các hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác;

h) Thực hiện việc thu nợ cho đơn vị được kiểm toán;

i) Thông đồng, móc nối với đơn vị được kiểm toán để làm sai lệch tài liệu kế toán, báo cáo tài chính, hồ sơ kiểm toán và báo cáo sai lệch kết quả kiểm toán;

k) Giả mạo, khai man hồ sơ kiểm toán;

l) Thuê, mượn chứng chỉ kiểm toán viên và Giấy chứng nhận đăng ký hành nghề kiểm toán để thực hiện hoạt động nghề nghiệp;

m) Cung cấp dịch vụ kiểm toán khi không đủ điều kiện theo quy định của Luật này;

n) Hành vi khác theo quy định của pháp luật.

2. Ngoài các quy định tại khoản 1 Điều này, nghiêm cấm kiểm toán viên, kiểm toán viên hành nghề thực hiện các hành vi sau đây:

a) Hành nghề kiểm toán với tư cách cá nhân;

b) Giả mạo, cho thuê, cho mượn hoặc cho sử dụng tên và chứng chỉ kiểm toán viên, Giấy chứng nhận đăng ký hành nghề kiểm toán để thực hiện hoạt động kiểm toán;

c) Làm việc cho hai doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam trở lên trong cùng một thời gian;

d) Hành vi khác theo quy định của pháp luật.

3. Nghiêm cấm đơn vị được kiểm toán và tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện các hành vi sau đây:

a) Chọn tổ chức, cá nhân không đủ điều kiện hành nghề kiểm toán để ký hợp đồng kiểm toán;

b) Từ chối cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết cho việc kiểm toán theo yêu cầu của kiểm toán viên hành nghề hoặc doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam;

c) Cản trở công việc của thành viên tham gia cuộc kiểm toán;

d) Cung cấp sai lệch, không trung thực, không đầy đủ, không kịp thời thông tin, tài liệu liên quan đến cuộc kiểm toán;

đ) Mua chuộc, hối lộ, thông đồng với thành viên tham gia cuộc kiểm toán và doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam để làm sai lệch tài liệu kế toán, báo cáo tài chính, hồ sơ kiểm toán và báo cáo kiểm toán;

e) Che giấu hành vi vi phạm pháp luật về tài chính, kế toán;

g) Đe dọa, trả thù, ép buộc thành viên tham gia cuộc kiểm toán nhằm làm sai lệch kết quả kiểm toán;

h) Hành vi khác theo quy định của pháp luật.

4. Nghiêm cấm tổ chức, cá nhân can thiệp trái pháp luật và cản trở hoạt động nghề nghiệp của kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam; lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm quy định về cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán, Giấy chứng nhận đăng ký hành nghề kiểm toán, kiểm tra, kiểm soát chất lượng dịch vụ kiểm toán, xử lý kỷ luật và xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động kiểm toán độc lập.

Như vậy, theo các quy định của Luật kiểm toán độc lập thì doanh nghiệp kiểm toán mà bạn là giám đốc hoàn toàn có thể kiểm toán cho doanh nghiệp mà bạn là giám đốc thuê.

Người lao động bị tai nạn lao động, nghỉ để thực hiện việc giám định thương tật. Người sử dụng lao động có chi trả cho người lao động những ngày phải nghỉ do thực hiện việc giám định hay không? Chi phí giám định do NSDLĐ hay NLĐ chi trả?

Trả lời:

1/ Khi xảy ra tai nạn lao động, người lao động có trách nhiệm chi trả mọi chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị xong. Người sử dụng lao động phải làm thủ tục đưa người lao động bị tai nạn lao động đi giám định y khoa xác định mức thương tổn và tiến hành các thủ tục đề nghị cơ quan bảo hiểm xã hội trợ cấp tai nạn lao động cho người lao động.

Theo khoản 2 Điều 107 Bộ luật Lao động năm 1994 quy định: “người sử dụng lao động phải chịu toàn bộ chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị xong cho người bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp. Người lao động được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Nếu doanh nghiệp chưa tham gia loại hình bảo hiểm xã hội bắt buộc, thì người sử dụng lao động phải trả cho người lao động một khoản tiền ngang với mức quy định trong Điều lệ Bảo hiểm xã hội” thì chi phí giám định thương tật sẽ do người sử dụng lao động chi trả.

2/ Người sử dụng lao động sẽ phải trả lương cho những ngày người lao động phải nghỉ việc do thực hiện việc giám định thương tật. Cụ thể:

Khoản 1 Điều 143 Bộ luật Lao động 1994 cũng quy định như sau: “Trong thời gian người lao động nghỉ việc để chữa trị vì tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, người sử dụng lao động phải trả đủ lương và chi phí cho người lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 107 của bộ luật này.

Sau khi điều trị, tuỳ theo mức độ suy giảm khả năng lao động do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, người lao động được giám định và xếp hạng thương tật để hưởng trợ cấp một lần hoặc hàng tháng do quỹ bảo hiểm xã hội trả”.

Như vậy, người lao động bị tai nạn lao động, chi phí giám định thương tật và lương cho những ngày người lao động nghỉ để giám định thương tật do người sử dụng lao động trả.

Tôi là chủ một doanh nghiệp, hiện nay muốn ký hợp đồng lao động với người nước ngoài. Vậy xin hỏi pháp luật hiện hành quy định về vấn đề này như thế nào?

Trả lời:

Theo quy định tại Nghị định số 34/2008/NĐ-CP Quy định về tuyển dụng và quản lý người nước ngoài làm việc tại Việt Nam thì:

Điều 3. Người nước ngoài làm việc tại Việt Nam phải có đủ các điều kiện sau:

1. Đủ 18 tuổi trở lên;

2. Có sức khỏe phù hợp với yêu cầu công việc;

3. Là nhà quản lý, giám đốc điều hành hoặc chuyên gia theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 2 của Nghị định này;

Đối với người nước ngoài xin vào hành nghề y, dược tư nhân, trực tiếp khám, chữa bệnh tại Việt Nam hoặc làm việc trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề phải có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam về hành nghề y, dược tư nhân hoặc về giáo dục, dạy nghề.

4. Không có tiền án về tội vi phạm an ninh quốc gia; không thuộc diện đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đang chấp hành hình phạt hình sự theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài.

5. Có giấy phép lao động do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam cấp, trừ các trường hợp không phải cấp giấy phép lao động quy định tại khoản 1 Điều 9 Nghị định này.

Điều 4. Tuyển dụng người nước ngoài làm việc tại Việt Nam theo hình thức hợp đồng lao động

1. Người sử dụng lao động được tuyển người nước ngoài khi người nước ngoài đảm bảo đầy đủ các điều kiện theo quy định tại Điều 3 của Nghị định này để làm công việc quản lý, giám đốc điều hành và chuyên gia mà lao động Việt Nam chưa đáp ứng được theo nhu cầu sản xuất, kinh doanh.

2. Hồ sơ đăng ký dự tuyển lao động của người nước ngoài: Người nước ngoài nộp 02 (hai) bộ hồ sơ cho người sử dụng lao động, một bộ do người sử dụng lao động quản lý và một bộ hồ sơ để người sử dụng lao động làm thủ tục đăng ký cấp giấy phép lao động. Mỗi bộ hồ sơ gồm có:

a) Phiếu đăng ký dự tuyển lao động của người nước ngoài theo mẫu quy định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội;

b) Phiếu lý lịch tư pháp do cơ quan có thẩm quyền của nước mà người nước ngoài cư trú ở nước ngoài trước khi đến Việt Nam cấp. Trường hợp người nước ngoài hiện đã cư trú tại Việt Nam từ đủ 06 tháng trở lên thì chỉ cần phiếu lý lịch tư pháp do Sở Tư pháp của Việt Nam nơi người nước ngoài đang cư trú cấp;

c) Bản lý lịch tự thuật của người nước ngoài theo mẫu quy định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội;

d) Giấy chứng nhận sức khoẻ được cấp ở nước ngoài hoặc giấy chứng nhận sức khoẻ được cấp ở Việt Nam theo quy định của Bộ Y tế Việt Nam;

đ) Bản sao chứng nhận về trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao của người nước ngoài. Đối với người nước ngoài là nghệ nhân những ngành nghề truyền thống hoặc người có kinh nghiệm trong nghề nghiệp, trong điều hành sản xuất, quản lý mà không có chứng chỉ, bằng công nhận thì phải có bản xác nhận ít nhất 05 (năm) kinh nghiệm trong nghề nghiệp, trong điều hành sản xuất, quản lý được cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài xác nhận;

e) 03 (ba) ảnh mầu (kích thước 3cm x 4cm, đầu để trần, chụp chính diện, rõ mặt, rõ hai tai, không đeo kính, phông ảnh màu trắng), ảnh chụp không quá 06 (sáu) tháng tính từ thời điểm người nước ngoài nộp hồ sơ.

3. Các giấy tờ quy định trong hồ sơ nêu trên do cơ quan, tổ chức nước ngoài cấp hoặc công chứng, chứng thực phải được hợp pháp hoá lãnh sự theo quy định của pháp luật Việt Nam và dịch ra tiếng Việt; bản dịch, bản sao phải được công chứng theo quy định của pháp luật Việt Nam.

4. Trình tự, thủ tục tuyển người nước ngoài làm việc tại Việt Nam:

a) Trước khi tuyển lao động ít nhất 30 (ba mươi) ngày, người sử dụng lao động phải thông báo nhu cầu tuyển lao động trên báo Trung ương hoặc địa phương (báo viết, báo nói, báo hình, báo điện tử) về các nội dung: số lượng người cần tuyển, công việc, trình độ chuyên môn, mức lương, điều kiện làm việc và một số yêu cầu cần thiết khác nếu người sử dụng lao động cần.

Trường hợp người sử dụng lao động tuyển người nước ngoài thông qua tổ chức giới thiệu việc làm thì không phải thông báo nhu cầu tuyển lao động trên báo Trung ương hoặc địa phương theo quy định nêu trên.

b) Người sử dụng lao động phải cung cấp đầy đủ các quy định của pháp luật Việt Nam có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người nước ngoài vào Việt Nam làm việc; Người nước ngoài phải nghiên cứu đầy đủ các quy định của pháp luật Việt Nam do người sử dụng lao động cung cấp, đồng thời phải chuẩn bị các giấy tờ cần thiết và thực hiện theo đúng quy định của Nghị định này.

c) Người nước ngoài muốn làm việc tại Việt Nam phải nộp hồ sơ đăng ký dự tuyển lao động nêu tại khoản 2 Điều này cho người sử dụng lao động. Người sử dụng lao động tiếp nhận hồ sơ đăng ký dự tuyển lao động của người nước ngoài khi hồ sơ có đầy đủ các giấy tờ theo quy định tại Nghị định này và phải làm thủ tục đề nghị cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam theo quy định tại Nghị định này.

d) Khi được cấp giấy phép lao động, người nước ngoài và người sử dụng lao động phải tiến hành giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản theo quy định của pháp luật lao động Việt Nam; người sử dụng lao động có trách nhiệm gửi bản sao hợp đồng lao động đã giao kết tới cơ quan đã cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài đó. Nội dung trong hợp đồng lao động không được trái với nội dung đã ghi trong giấy phép lao động đã được cấp.”

Bạn có thể căn cứ theo những quy định nêu trên để đối chiếu với trường hợp của mình.

Tôi muốn đăng ký kết hôn với người Hàn Quốc tại Việt Nam. Tôi cần làm những thủ tục gì? Tôi đã mua hồ sơ đăng ký kết hôn nhưng không biết điền thế nào cho phù hợp. Xin luật sư hướng dẫn cụ thể.

Trả lời:

Điều 103 Luật Hôn nhân gia đình quy định: “Trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn; nếu việc kết hôn được tiến hành tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài cũng phải tuân theo các quy định của Luật này về điều kiện kết hôn”.

Nếu hai bạn đáp ứng đủ điều kiện kết hôn và không thuộc một trong những trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại Điều 9 và Điều 10 của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam được thì hai bạn có thể làm thủ tục đăng ký kết hôn.

1. Về thẩm quyền đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài:

Theo quy định tại Điều 102 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 3, Điều 12 Nghị định số 68/2002/NĐ-CP, cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn gồm: UBND cấp tỉnh nơi thường trú của công dân Việt Nam; cơ quan đại diện ngoại giao (đại sứ quán, lãnh sứ quán Việt Nam) ở nước ngoài; UBND cấp xã nơi khu vực vùng biên giới thực hiện đăng ký kết hôn cho công dân thường trú trong khu vực biên giới kết hôn với công dân nước láng giềng thường trú ở khu vực biên giới.

Như vậy nếu bạn muốn đăng ký kết hôn tại Việt Nam thì phải căn cứ vào việc bạn có hộ khẩu thường trú tại tỉnh nào thì UBND tỉnh đó sẽ có thẩm quyền thực hiện đăng ký kết hôn cho bạn.

2. Về trình tự thủ tục:

* Thứ nhất, hồ sơ đăng ký kết hôn:

Theo quy định tại Điều 13 Nghị định 69/2006/NĐ-CP, hồ sơ đăng ký kết hôn bao gồm:

(1) Tờ khai đăng ký kết hôn theo mẫu quy định;

(2) Giấy xác nhận về tình trạng hôn nhân của mỗi bên, do cơ quan có thẩm quyền của nước mà người xin kết hôn là công dân cấp chưa quá 6 tháng, tính đến ngày nhận hồ sơ, xác nhận hiện tại đương sự là người không có vợ hoặc không có chồng. (Đối với đương sự là người nước ngoài phải căn cứ vào quy định của nước đó về thẩm quyền cấp các loại giấy tờ trên)

Trong trường hợp pháp luật của nước mà người xin kết hôn là công dân không quy định cấp giấy xác nhận về tình trạng hôn nhân thì có thể thay giấy xác nhận tình trạng hôn nhân bằng giấy xác nhận lời tuyên thệ của đương sự là hiện tại họ không có vợ hoặc không có chồng, phù hợp với pháp luật của nước đó;

(3) Giấy xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền của Việt Nam hoặc nước ngoài cấp chưa quá 06 tháng, tính đến ngày nhận hồ sơ, xác nhận hiện tại người đó không mắc bệnh tâm thần hoặc không mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình;

(4) Bản sao có công chứng hoặc chứng thực giấy chứng minh nhân dân (đối với công dân Việt Nam ở trong nước), hộ chiếu hoặc giấy tờ thay thế như giấy thông hành hoặc thẻ cư trú (đối với người nước ngoài và công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài);

(5) Bản sao có công chứng hoặc chứng thực sổ hộ khẩu hoặc giấy chứng nhận nhân khẩu tập thể hoặc giấy xác nhận đăng ký tạm trú có thời hạn (đối với công dân Việt Nam ở trong nước), thẻ thường trú hoặc thẻ tạm trú hoặc giấy xác nhận tạm trú (đối với người nước ngoài ở Việt Nam).

Nếu công dân Việt Nam đang phục vụ trong các lực lượng vũ trang hoặc đang làm việc có liên quan trực tiếp đến bí mật Nhà nước thì phải nộp giấy xác nhận của cơ quan, tổ chức quản lý ngành cấp Trung ương hoặc cấp tỉnh, xác nhận việc người đó kết hôn với người nước ngoài không ảnh hưởng đến việc bảo vệ bí mật Nhà nước hoặc không trái với quy định của ngành đó.

* Thứ hai, thủ tục nộp và tiếp nhận hồ sơ

Hồ sơ nêu trên cần phải lập thành 2 bộ và nộp tại Sở Tư pháp nơi bạn thường trú. Theo quy định tại khoản 3 Điều 13 và Điều 14 Nghị định số 68, "khi nộp hồ sơ đăng ký kết hôn, cả hai bên đương sự phải có mặt. Trong trường hợp có lý do khách quan mà một bên không thể có mặt được thì phải có đơn xin vắng mặt và ủy quyền cho bên kia đến nộp hồ sơ. Không chấp nhận việc nộp hồ sơ đăng ký kết hôn qua người thứ ba”.

Thời hạn giải quyết việc đăng ký kết hôn là 30 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Trong trường hợp có yêu cầu cơ quan công an xác minh thì thời hạn này được kéo dài thêm 20 ngày.

Nếu xét thấy hai bạn đáp ứng đủ điều kiện kết hôn, không thuộc một trong các trường hợp từ chối đăng ký kết hôn quy định tại Điều 18 của Nghị định số 68 thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ ký Giấy chứng nhận kết hôn và trả lại hồ sơ cho Sở Tư pháp để tổ chức Lễ đăng ký kết hôn cho hai bạn, ghi vào sổ đăng ký việc kết hôn và lưu trữ hồ sơ theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp từ chối đăng ký kết hôn thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có văn bản thông báo cho bạn, trong đó nêu rõ lý do từ chối.

Cha mẹ tôi cho vợ chồng tôi hai mảnh đất. Trên giấy tờ đất, hai vợ chồng tôi đứng tên. Vậy xin hỏi nếu hai vợ chồng tôi ly hôn thì tài sản trên được chia như thế nào?

Trả lời:

Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định:

"1. Tài sản chung của vợ chồng gồm những tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng, cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thuận.

2. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung".

Như vậy, hai mảnh đất được cha mẹ bạn cho hai bạn là trong thời kỳ hôn nhân thì là tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại khoản 1, 2 được trích ở trên. Vì vậy, khi ly hôn, tài sản đó sẽ được chia theo nguyên tắc của khoản 2 Điều 95 Luật Hôn nhân và gia đình “Việc chia tài sản chung được giải quyết theo các nguyên tắc sau đây:

a) Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

b) Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật hoặc theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch.”

Ngoài ra, việc thanh toán nghĩa vụ chung về tài sản vợ chồng do vợ, chồng thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Hỗ trợ tư vấn

Điện thoại:
Fax:
 
(+84-24)3.557.9668
 
(+84-24)3.557.9598
Email tư vấn: info@luatsutuvan.com.vn
icon_email

Giải đáp pháp luật

Joomla Templates and Joomla Extensions by JoomlaVision.Com

Tổ chức liên kết

cong-chung
daugia
KK22

Liên kết website

bg_trai3