en vi

Thứ ba, 22/08/2017
Công ty Luật TNHH  Đào và Đồng nghiệp | Địa chỉ: Số 369, Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội | Điện thoại : (+84-24)3.557.9568*  Fax: (+84-24)3.557.9598 * Hotline: 0945.490.123

Hành vi đánh bạc trên mạng và cá độ bóng đá bị xử lý như thế nào?

Email In PDF

 Như thế nào là đánh bạc trên mạng? Hành vi đó bị xử lý như thế nào?

Hành vi đánh bạc dù dưới bất cứ hình thức nào và xảy ra trên mạng hay không, đều phải được xem xét theo quy định của luật Bộ luật hình sự.

Khoản 1 điều 248 Bộ luật hình sự quy định về tội Đánh bạc nêu rõ: “Người nào đánh bạc dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị….”. Tại Nghị quyết 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Điều 248 và Điều 249 của BLHS có nêu: “Đánh bạc trái phép” là hành vi đánh bạc được thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào với mục đích được thua bằng tiền hay hiện vật mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép nhưng thực hiện không đúng với quy định trong giấy phép được cấp
Như vậy, hướng dẫn của Hội đồng thẩm phán TANDTC đã quy định cụ thể quy định của Bộ luật Hình sự về hành vi đánh bạc trái phép.
Liên quan đến hành vi đánh bạc qua mạng, hiện nay chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào giải thích cụ thể thế nào là hành vi đánh bạc qua mạng. Tuy nhiên, căn cứ vào quy định của BLHS và Nghị quyết 01/2010/NQ-HĐTP nêu trên thì có thể hiểu hành vi đánh bạc qua mạng là hành vi đánh bạc trên các trang web trực tuyến với mục đích được thua bằng tiền hay hiện vật mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép nhưng thực hiện không đúng với quy định trong giấy phép được cấp.

Đánh bạc qua mạng khi bị phát hiện vẫn bị xử lý theo quy định của pháp luật. Nếu hành vi đánh bạc qua mạng chưa đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự thì có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 25 Nghị định 150/2005/NĐ-CP ngày 12/12/2005 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự. Mức phạt tùy thuộc vào hành vi đánh bạc. Trong trường hợp đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi đánh bạc qua mạng thì sẽ bị xử lý hình sự. Theo quy định tại Điều 248 BLHS 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) thì: “1. Người nào đánh bạc dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ hai triệu đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 249 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
a) Có tính chất chuyên nghiệp;
b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc có giá trị từ năm mươi triệu đồng trở lên;
c) Tái phạm nguy hiểm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng”

Hành vi cá độ bóng đá bị xử lý như thế nào?

Trước hết phải khẳng định rằng hành vi cá độ bóng đá, tổ chức cá độ bóng đá là hành vi đánh bạc trái phép, theo quy định pháp luật hiện hành. Tùy theo mức độ vi phạm có thể chịu trách nhiệm pháp lý ở các mức khác nhau.
Về mặt xử lý hành chính, vấn đề này được quy định rõ tại Nghị định 167/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự, an toàn xã hội. Điều 26 của Nghị định này quy định mức phạt từ 1 đến 2 triệu đồng đối với hành vi cá cược bằng tiền hoặc dưới các hình thức khác trong hoạt động thi đấu thể thao, vui chơi giải trí, các hoạt động khác; và mức phạt từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng đối với hành vi tổ chức cá cược trong hoạt động thi đấu thể dục thể thao, vui chơi giải trí hoặc dưới các hoạt động khác để đánh bạc, ăn tiền nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Về mặt truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi cá độ bóng đá, Điều 248 Bộ luật Hình sự quy định rằng trong trường hợp cá độ có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng đã bị kết án về tội đánh bạc hoặc tội tổ chức đánh bạc, gá bạc theo quy định tại Điều 249 BLHS, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm. Bên cạnh đó, theo khoản 2, 3 Điều 248 BLHS thì nếu phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm: a) Có tính chất chuyên nghiệp; b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc có giá trị từ năm mươi triệu đồng trở lên; c) Tái phạm nguy hiểm; người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng.
Về trách nhiệm hình sự đối với hành vi tổ chức cá độ bóng đá: Theo điều 249 (Tội tổ chức đánh bạc) thì hành vi tổ chức với quy mô lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều 249 và Điều 248 của BLHS hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến ba trăm triệu đồng hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm: a) Có tính chất chuyên nghiệp; b) Thu lợi bất chính lớn, rất lớn hoặc đặc biệt lớn; c) Tái phạm nguy hiểm. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Tùy từng trường hợp cụ thể người thực hiện hành vi cá độ bóng đá hoặc thực hiện hành vi tổ chức cá độ bóng đá bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Nguồn: Công ty Luật TNHH Đào và Đồng nghiệp

 

 

Hành vi cá độ bóng đá có bị xử phạt?

Email In PDF

Hỏi:Xin cho biết hành vi cá độ bóng đá sẽ bị xử lý hành chính và hình sự như thế nào? (Hà Ngọc Khiết, Từ Liêm, Hà Nội).


Trả lời: Trước hết phải khẳng định rằng hành vi cá độ bóng đá, tổ chức cá độ bóng đá là hành vi đánh bạc trái phép, theo quy định pháp luật hiện hành. Về mặt xử lý hành chính, vấn đề này được quy định rõ tại Nghị định 167/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự, an toàn xã hội. Điều 26, Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định mức phạt từ 1 đến 2 triệu đồng đối với hành vi cá cược bằng tiền hoặc dưới các hình thức khác trong hoạt động thi đấu thể thao, vui chơi giải trí, các hoạt động khác; và mức phạt từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng đối với hành vi tổ chức cá cược trong hoạt động thi đấu thể dục thể thao, vui chơi giải trí hoặc dưới các hoạt động khác để đánh bạc, ăn tiền nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Tùy theo mức độ vi phạm có thể chịu trách nhiệm pháp lý ở các mức khác nhau. Về mặt truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi cá độ bóng đá, Điều 248 (Tội đánh bạc) Bộ luật Hình sự thì trong trường hợp cá độ có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng đã bị kết án về tội đánh bạc hoặc tội tổ chức đánh bạc, gá bạc theo quy định tại Điều 249 BLHS, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm. Bên cạnh đó, theo khoản 2, 3 Điều 248 BLHS thì nếu phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm: a) Có tính chất chuyên nghiệp; b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc có giá trị từ năm mươi triệu đồng trở lên; c) Tái phạm nguy hiểm. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng.
Về trách nhiệm hình sự đối với hành vi tổ chức cá độ bóng đá: Theo điều 249 (Tội tổ chức đánh bạc) thì hành vi tổ chức với quy mô lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều 249 và Điều 248 của BLHS hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến ba trăm triệu đồng hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm: a) Có tính chất chuyên nghiệp; b) Thu lợi bất chính lớn, rất lớn hoặc đặc biệt lớn; c) Tái phạm nguy hiểm. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Tùy từng trường hợp cụ thể người thực hiện hành vi cá độ bóng đá hoặc thực hiện hành vi tổ chức cá độ bóng đá bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật

Nguồn: Công ty Luật TNHH Đào và Đồng nghiệp

 

Thủ tục khai sinh cho trẻ bị bỏ rơi

Email In PDF

 

Hỏi: Thủ tục làm khai sinh cho trẻ bị bỏ rơi được pháp luật quy định như thế nào? (Bà Hoàng Thị Ngọc, Phủ Lý, Hà Nam).

Trả lời: Quyền được khai sinh là một trong những quyền đầu tiên của trẻ em được quy định trong Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của Việt Nam cũng như trong Công ước của Liên hợp quốc về quyền của trẻ em. Kể cả với những trẻ em không may mắn bị bỏ rơi khi chào đời, pháp luật Việt Nam vẫn có quy định về thủ tục để làm khai sinh cho trẻ.

Thủ tục này được quy định tại Điều 16 Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27-12-2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch, cụ thể:

1. Người phát hiện trẻ sơ sinh bị bỏ rơi có trách nhiệm bảo vệ trẻ và báo ngay cho Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an xã, phường, thị trấn, nơi trẻ bị bỏ rơi để lập biên bản và tìm người hoặc tổ chức tạm thời nuôi dưỡng trẻ em đó.

Biên bản phải ghi rõ ngày, tháng, năm, địa điểm phát hiện trẻ bị bỏ rơi; giới tính; đặc điểm nhận dạng; tài sản và các đồ vật khác của trẻ (nếu có); họ, tên, địa chỉ của người phát hiện. Biên bản được lập thành hai bản, một bản lưu tại UBND cấp xã, nơi lập biên bản, một bản giao cho người hoặc tổ chức tạm thời nuôi dưỡng trẻ.

2. UBND cấp xã, nơi lập biên bản có trách nhiệm thông báo trên Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình địa phương để tìm cha, mẹ đẻ của trẻ. Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình có trách nhiệm thông báo miễn phí 3 lần trong 3 ngày liên tiếp các thông tin về trẻ sơ sinh bị bỏ rơi. Hết thời hạn 30 ngày, kể từ ngày thông báo cuối cùng, nếu không tìm thấy cha, mẹ đẻ, thì người hoặc tổ chức đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ có trách nhiệm đi đăng ký khai sinh.

3. Khi đăng ký khai sinh cho trẻ sơ sinh bị bỏ rơi, họ, tên của trẻ được ghi theo đề nghị của người đi khai sinh; nếu không có cơ sở để xác định ngày sinh và nơi sinh, thì ngày phát hiện trẻ bị bỏ rơi là ngày sinh; nơi sinh là địa phương nơi lập biên bản; quốc tịch của trẻ là quốc tịch Việt Nam. Phần khai về cha, mẹ và dân tộc của trẻ trong Giấy khai sinh và Sổ đăng ký khai sinh được để trống. Trong cột ghi chú của Sổ đăng ký khai sinh phải ghi rõ "trẻ bị bỏ rơi". Trong trường hợp có người nhận trẻ làm con nuôi, thì cán bộ Tư pháp hộ tịch căn cứ vào quyết định công nhận việc nuôi con nuôi để ghi tên cha, mẹ nuôi vào phần ghi về cha, mẹ trong Sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh của con nuôi; trong cột ghi chú của Sổ đăng ký khai sinh phải ghi rõ "cha, mẹ nuôi"; nội dung ghi chú này phải được giữ bí mật, chỉ những người có thẩm quyền mới được tìm hiểu.

Nguồn: Công ty Luật TNHH Đào và Đồng nghiệp

 

Báo Pháp luật Việt Nam 24/9/09

Email In PDF

Câu 1Chị Hoàng An (Hà Nội) hỏi: Tôi có một người họ hàng kết hôn với chồng là người Pháp. Xin Quý báo cho biết cơ quan có thẩm quyền giải quyết việc về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là cơ quan nào?

Trả lời:

Liên quan đến vấn đề thẩm quyền giải quyết các việc về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, Điều 102 Luật Hôn nhân và Gia đình 2004 có quy định cụ thể như sau:

- Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện việc đăng ký kết hôn, nuôi con nuôi và giám hộ có yếu tố nước ngoài. Việc đăng ký kết hôn, nuôi con nuôi, giám hộ giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam do chính phủ quy định.

Đọc thêm...
 
Trang 1 / 2

Hỗ trợ tư vấn

Điện thoại:
Fax:
 
(+84-24)3.557.9668
 
(+84-24)3.557.9598
Email tư vấn: info@luatsutuvan.com.vn
icon_email

Giải đáp pháp luật

Joomla Templates and Joomla Extensions by JoomlaVision.Com

Tổ chức liên kết

cong-chung
daugia
KK22

Liên kết website

bg_trai3