DI CHÚC Một trong những nét đẹp truyền thống về gia đình trong văn hoá Việt Nam chính là việc chuyển những thành quả của thế hệ đi trước dành tặng cho con cháu. Di chúc và di sản thừa kế đã được bảo tồn và phát huy từ thế hệ này qua thế hệ khác. Pháp luật Việt Nam cũng quy định rất rõ vấn đề này trong Bộ Luật dân sự: Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật…(điều 631) Mặc dù nhu cầu việc lập di chúc đang tiềm ẩn rất lớn trong nhân dân, nhưng việc lập di chúc để định đoạt tài sản của một người thường được thể hiện dưới hình thức miệng (tuyên bố trước gia đình, gia tộc), các di chúc được thể hiện dưới hình thức viết như: di chúc tự lập, di chúc được lập bằng văn bản có người làm chứng hay di chúc được cơ quan có thẩm quyền là các tổ chức hành nghề công chứng soạn thảo và công chứng được lập chưa nhiều. Sở dĩ như vậy là do chưa nhận thức được lợi ích của việc lập di chúc, do thói quen sinh hoạt truyền thống đã tồn tại lâu đời trong đời sống nhân dân…Trong Bộ Luật Dân sự đã quy định rõ là: “Di chúc phải được lập thành văn bản, nếu không thể lập di chúc bằng văn bản có thể di chúc miệng” (điều 649) tuy nhiên chỉ trong trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe doạ do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng. Sau ba tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị bỏ. (điều 651). Trên thực tế, việc xảy ra tranh chấp thừa kế không phải là chuyện hiếm.Việc phân chia tài sản thừa kế bao giờ cũng là vấn đề rất phức tạp, tế nhị và nhạy cảm. Phức tạp hơn việc chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản ở các hình thức khác (mua bán, tặng cho, trao đổi). Bởi vì việc chuyển quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản ở các hình thức khác chính là những giao dịch về việc định đoạt quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng giữa những người đang còn sống với nhau. Do vậy, nếu có mâu thuẫn hoặc tranh chấp thì họ có thể trực tiếp đối chất với nhau, trong khi đó việc chuyển quyền sở hữu tài sản thừa kế (trong đó có thừa kế theo di chúc) được thực hiện giữa một người đã chết cho một hoặc nhiều người thừa kế còn sống. Vì vậy, tất cả những gì được ghi trong di chúc hợp pháp là căn cứ vật chất để tiến hành các thủ tục chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản thừa kế đó. Di chúc có nhiều loại, được lập bằng nhiều hình thức khác nhau như: - Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng - Di chúc bằng văn bản có người làm chứng - Di chúc bằng văn bản có công chứng - Di chúc bằng văn bản có chứng thực Nếu được lập đúng thể thức thì mọi di chúc đều có hiệu lực pháp luật như nhau. Tuy nhiên, một di chúc được lập bởi người có trình độ pháp lý chuyên sâu, dưới hình thức chặt chẽ thì nó càng đạt chất lượng cao, ít bị sai sót, khó bị vô hiệu, khó xảy ra tranh chấp, khiếu kiện giữa những người thừa kế với nhau hoặc và giữa họ với người thứ ba. Di chúc được lập theo một trình tự chặt chẽ nhất, kỹ thuật nhất chính là di chúc có chứng nhận của công chứng viên. Di chúc do công chứng viên chứng nhận có ưu điểm hơn so với di chúc được lập dưới các hình thức khác, vì nó được thực hiện ở một nơi nghiêm trang, theo những trình tự thủ tục chặt chẽ, được lưu giữ nơi an toàn. Mặt khác, công chứng viên được giao thực hiện công chứng là những người được trang bị những kiến thức phong phú về pháp luật, nghiêm túc, trung thực, có kinh nghiệm và thâm niên công tác pháp luật và hoạt động chuyên trách. Do vậy, di chúc do công chứng viên chứng nhận tại phòng công chứng đảm bảo được tính hợp thức, hợp pháp, là văn bản chất lượng có độ tin cậy cao, là phương tiện tạo điều kiện rất thuận lợi để thực hiện việc phân chia di sản giữa những người thừa kế sau này.
|